Bạn có thơ tự sáng tác? Gửi tác phẩm!

Biến thể của thơ Đường Luật

Thơ Đường Luật xuất hiện từ thời vua Đường Trung Tông và Võ Tắc Thiên ở Trung Quốc và du nhập vào đất Việt trong thời Bắc thuộc. Sau khi dành tự chủ (năm 938), người Việt bắt đầu làm thơ Đường Luật Hán ngữ từ thời nhà Lý.

Biến thể của thơ Đường Luật được ghi chép và truyền bá nhờ sách của ông Diên Hương và ông Quách Tấn vào cuối thời Pháp Thuộc. Sau năm 1975, lại có nhiều biến thể nữa được thi nhân tạo ra. Bài viết này tổng hợp và trình bày tất cả 42 biến thể chính của thơ Đường Luật.
Biến thể của thơ Đường Luật


 Dưới đây là danh sách của những biến thể của thơ Đường Luật, chính yếu là Thất Ngôn Bát Cú.

Bình Đầu - Thủ Nhất Thanh (Thủ Nhất Đồng)

Bình Đầu = Chữ đầu của mỗi câu thơ đều dùng một chữ như nhau. (Bình = đều nhau).
Thủ Nhất Thanh hay Thủ Nhất Đồng = Từ ngữ đứng đầu của các câu thơ đều giống nhau.
(Chỉ có từ đơn giống nhau, không có từ kép). (Thủ = đầu, trước hết).

Biến thể này bắt đầu xuất hiện trong thơ chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ 20 như những bài thơ trong
Phụ Nữ Tân Văn.

NGHĨ ĐỜI

Nghĩ rồi chán ngán chị em ơi
Nghĩ nỗi gần xa ruột phải sôi
Nghĩ đến đường đời đen tợ mực
Nghĩ cho dạ thế bạc nhường vôi
Nghĩ ruồi sỉa cảng vì ve mật
Nghĩ cá vào câu bởi miếng mồi
Nghĩ đủ trăm vành chi cũng nghĩ
Nghĩ quanh nghĩ quẩn rối bời bời.
(NQH) Nha Trang

PNTV số 73

Thật ra trong Văn học sử có hai bài thơ "Sống Chết" của Đặng Văn Bá là những bài thơ đầu tiên dùng biến thể nầy.

CHẾT

Chết mà vì nước, chết vì dân
Chết ấy làm trai hết nợ nần
Chết bởi Đông Chu thời thất quốc
Chết vì Tây Hán lúc tam phân
Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh
Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần
Chết cụ Tây Hồ hồn chẳng chết
Chết mà vì nước, chết vì dân.
(Đặng Văn Bá)


SỐNG

Sống dại mà chi sống chật đời
Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai ?
Sống làm nô lệ cho người khiến
Sống chịu ngu si để bạn cười
Sống tưởng công danh không tưởng nước
Sống lo phú quí chẳng lo đời
Sống mà như thế đừng nên sống
Sống dại sinh chi đứng chật đời.
(Đặng Văn Bá)

Đây là 2 bài thơ mà ông Đặng Văn Bá làm nhân ông Phan Châu Trinh qua đời (năm 1925).
Bài thơ nổi danh "Sống" của ông Phan Bội Châu không khác bài thơ của ông Đặng Văn Bá.

Bài thơ “Sống” của ông Phan Bội Châu cũng hơi giống như bài thơ "Sống" của ông Đặng Văn Bá? Ông Đặng Văn Bá sau khi đi tù Côn Đảo về có sống một thời gian ở Huế với ông Phan Bội Châu.

SỐNG SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời
Sống dại mà chi sống chật đời
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai 
Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai ?
Sống làm nô lệ cho người khiến 
Sống làm nô lệ cho người khiến
Sống chịu ngu si để chúng cười 
Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước
Sống tưởng công danh không tưởng nước
Sống lo phú quí chẳng lo đời 
Sống lo phú quí chẳng lo đời
Sống mà như thế đừng nên sống 
Sống mà như thế đừng nên sống
Sống tủi làm chi đứng chật trời. 
Sống dại sinh chi đứng chật đời.
(Phan Bội Châu) (Đặng Văn Bá)


Các thi nhân Quốc ngữ Nam Kỳ vào đầu thế kỷ 20 cũng có làm thơ ĐL theo biến thể này.

Đây là 7 bài thơ liên tiếp của Long Khê Lão sư.


BẢY BÀI THẤT TÌNH

Mừng đám mây lành ứng cõi đông
Mừng trời thợ dệt khéo không cùng
Mừng coi sơn thủy màu in một
Mừng thấy yên ba sắt chói đồng
Mừng đặng sum vầy điềm cá nước
Mừng đua gặp gỡ hội mây rồng
Mừng con tạo hóa thôi chen chúc
Mừng phước trời cho khắp chỗ thông.


Giận đứa vô nghì chẳng sửa mình
Giận thằng bạc nghĩa dám khinh sanh
Giận con chẳng học năm hằng đạo
Giận vợ không trao bốn đức lành
Giận kẻ xô bồ quên lễ nghĩa
Giận người vụt chạc bỏ trung trinh
Giận bề non nước còn dùng thẳng
Giận thói dã man ngó chửa đành.


Buồn cười cái chuyện khéo thày lay
Buồn trái đạo hằng, hỡi ai hay?
Buồn phận tôi con chưa trọn vẹn
Buồn trang bạn tác nỡ lây dây
Buồn người bạc nghĩa buồn chi bấy
Buồn đứa quên ơn ỷ lắm thay
Buồn thấy lộ đồ đương lắm lối
Buồn trông sạch sẽ lúc nay mai.


Vui đời Nghiêu Thuấn thoại ba sinh
Vui gặp thần tiên hỏi mới đành
Vui sẵn áo cơm trương mắt bạc
Vui xô mây ngút thấy trời xanh
Vui say đạo vị dồi năm đức
Vui chóng Từ Hàng độ vạn linh (*)
Vui nắm giây cương chăn sáu ngựa
Vui đền bốn nợ đặng thinh thinh.


Thương kẻ hiền lành biết phải chăng
Thương người lầm lỗi sớm ăn năn
Thương tôi tay nắm ba giềng cả
Thương chúa vai mang một gánh quằn
Thương nước nghiêng nghèo lòng bức tức
Thương dân đồ thán dạ phàn nàn
Thương ai ngay thảo tròn sau trước
Thương cửa thi thơ khéo sửa sang.




Ghét đời những kẻ chẳng ngay trinh
Ghét đứa vong ơn bội nghĩa tình
Ghét đảng dám quên niềm dưỡng dục
Ghét thằng nỡ bỏ đạo cha anh
Ghét đàng lơ láo vì vương thổ
Ghét lũ xăng văng cái lợi danh
Ghét đám kè kè mang túi bạc
Ghét bầy xu phụ chẳng lo mình.




Muốn lên Bồng Đảo dạo xem chơi (*)
Muốn hỏi tiên ông tuổi mấy mươi
Muốn nước tào khê dòng chảy ngược
Muốn đờn bát nhã tiếng nghe xuôi
Muốn cho thiên hạ thông mùi đạo
Muốn khắp nhơn gian sợ lẽ trời
Muốn cõi ta bà làm lạc quốc
Muốn ông thánh chúa sớm ra đời.

(Long Khê Lão Sư)
(*) Chú thích:

Từ Hàng đạo nhân là Tiên (theo truyền thuyết) sau nầy thành Quan Âm bồ tát.

Chóng=làm cho nhanh.

Bồng Đảo = Đảo Bồng Lai, là nơi Tiên ở.

Bình Đầu cũng có trong bài thơ với Thủ Vĩ Ngâm:

BÁC ÁI

Thương người mang nặng kiếp trần ai
Thương bấy bến mê trót lạc loài
Thương bởi danh kiềm sao chẳng tỉnh?
Thương vì lợi tỏa lại càng say
Thương theo thói tục, còn ham muốn
Thương chác nợ đời, cứ hỏi vay
Thương mãi quay cuồng trong bể khổ
Thương người mang nặng kiếp trần ai.
(Lãng Ba)



1a. Thủ Nhất Tự

Sau năm 1975, từ biến thể Thủ Nhất Thanh có biến thể Thủ Nhất Tự.Thủ Nhất Tự = Chữ cái (mẫu tự) đứng đầu các câu thơ của một bài thơ đều giống nhau.

MƠ HOA
Lá trải thêm mùa ruộm ý nguyên
Lời thương vẫn ủ nét mơ huyền
Len dòng nhạc đẫm cung hờn tuổi
Lỗi giọt tơ nhòa mắt ngẩn duyên
Luống cỏ miền xa dằn nhụy nắng
Lề sông thuở cũ mộng hoa thuyền
Lay chiều ước hẹn trăng viền gió
Lẩn khuất hương tình gợi thúy uyên.
(Nguyễn Quốc Bình)


Khoán thủ - Dĩ đề vi thủ


Khoán Thủ = Chữ đầu câu (4 hay 8 câu) của tất cả các câu thơ ghép lại từ trên xuống dưới
thành một câu có nghĩa riêng đã giao hẹn trước, có thể là đề tài của bài thơ. (Khoán = giao hẹn
trước
).

Sau khi hoàn thành thi phẩm Như Tây Nhật Trình, ông Trương Minh Ký có làm bài thơ Tổng
vịnh và được 2 ông Petrus Trương Vĩnh Ký và Paulus Huỳnh Tịnh Của họa lại, đều theo biến thể
Khoán Thủ. Biến thể Khoáng Thủ bắt đầu với 3 thi nhân đầu tiên dùng thơ bằng chữ Quốc
ngữ.

- Bài xướng của Trương Minh Ký:
"Làm hết bổn Như Tây Nhựt Trình rồi"
Làm vầy sánh kẻ thả ngoài khơi,
Hết thảy đưa chân biết mấy nơi,
Bổn quấc về coi cồn vực đổi,
Như thuyền chạy thấy núi sông dời,
Tây Nam hai nước hòa ra thế,
Nhựt nguyệt đôi vầng chuyển vận đời,
Trình sự trải xem phong cảnh lạ,
Rồi đem đặt để đọc nghe chơi.
(Trương Minh Ký)

- Bài họa của Paulus Huỳnh Tịnh Của, ký là: Hữu bộ y thượng hạ nguyên vận. Nhơn-sơn Huình

đốc phủ chuyết họa.
"Làm hết bổn Như Tây Nhựt Trình rồi"
Làm trai chí cả dễ buông khơi,
Hết dạ tìm tòi học tới nơi;
Bổn truyện câu thơ biên sự thật
Như vàng như đá bút đâu dời,
Tây phương phong cảnh ra tiên cảnh,
Nhựt nguyệt quang hoa rạng dưới đời,
Trình việc giao du ngoài bốn biển;
Rồi công chuyện góp để xem chơi.

(Paulus Huỳnh Tịnh Của)

- Bài họa của Petrus Trương Vĩnh Ký, ký tên là: P. Trương-Vĩnh-Ký, Professeur de langues
orientales.
"Như Tây Nhựt Trình của Trương Minh Ký"
Như tây thuật lại chuyện vời khơi.
Tây giái phong quang nhẩng mấy nơi,
Nhựt ký cảnh kia từng mắt thấy,
Trình đồ cõi ấy khắp chơn dời,
Của tiền há trải vui tình khách,
Trương chỉ đành toan để tiếng đời,
Minh bạch phương xa in trước mặt,
Ký công làm dấu phải rằng chơi.

(Petrus Trương Vĩnh Ký)

- Bài tự họa của Trương Minh Ký (để trả lời Petrus Trương Vĩnh Ký):
"Như Tây Nhựt Trình Của Trương Minh Ký"
Như xưa lắm kẻ dạo xa khơi,
Tây vức đi về đã tới nơi,
Nhựt dạ xây vần trời đất đổi.
Trình đồ qua lại nước non dời,
Của kia vật nọ còn roi dấu,
Trương trước tờ sau cũng đổi dời,
Minh bạch những đều con mắt thấy,
Ký tên cho biết phải chăng chơi.
(Trương Minh Ký)

Ngày nay thi nhân thường ra tựa đề gồm 8 chữ rồi dùng 8 chữ nầy ở đầu mỗi câu. Do đó
Khoáng Thủ còn được gọi là Dĩ Đề Vi Thủ. (Dĩ = lấy, dùng. Vi = làm, ấy là. Dĩ đề vi thủ = lấy
tựa đề làm đầu; đầu ở đây là đầu câu).

CHÍ CHẲNG CHỜ NGÀY, TÀI KHÔNG ĐỢI TUỔI
Chí
hạnh dường thông ắt tỏ mình
Chẳng vì mất được cõi tam sinh
Chờ thanh ý ngọc bền tay giũa
Ngày sáng bờ vui trải diễm tình
Tài đặng nhân bồi xua hắc ám
Không ghì oán xả chói anh minh
Đợi, lay tiềm thức bừng ân điển
Tuổi hội tâm an vững cước trình.
(Nguyễn Quốc Bình)

Ngày nay biến thể nầy có thêm một biến tấu: thay vì 8 chữ (8 từ) thì có thêm nhiều hơn 8 chữ

như 2 Từ đầu của câu đầu trong bài thơ dưới đây:


TẶNG NGƯỜI TRI KỶ (*)
Đốc Tơ nội trú ở Ba Ri
Bùi thị hằng ưu thế mẫn thì
Văn Việt chuyên hành, tôn Phật giáo
Sách Nho thâm nhiễm, chuộng Đường thi
Bào toàn thuốc quí trừ căn độc
Chế đủ phương hay trị bịnh nguy
Dược phẩm Tây Tàu nghiên cứu mãi
Khoa nào cũng học, tánh siêng kỳ!
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)



(*) Chú thích: Người tri kỷ là Dược sĩ Bùi Văn Sách do đó có những chữ đầu là "Đốc Tơ Bùi
Văn Sách Bào Chế Dược Khoa". Ba Ri = Paris.

2a. Chiết Tự Khoáng Thủ


Chiết Tự Khoán Thủ = Chữ cái (mẫu tự) trong tựa đề làm âm đầu cho các Từ ở đầu mỗi câu
thơ của một bài thơ. Tựa đề thường là nhân danh hay địa danh. (Chiết = bẻ gẫy, rót ra).

Đây cũng là biến thể mới, chỉ thấy sau năm 1975. Nó xuất phát từ biến thể Khoán Thủ.


QUỐC BÌNH
Quang trời nắng dệt ánh hồng say
Uống giọt nguồn khơi tỏ tháng ngày
Ống kính không gian tầm sóng phủ
Con thuyền vũ trụ lướt sao bay
Bao luồng nghĩa cả từng suy gẫm
Ít khoảng tình riêng chẳng giải bày
Ngấm đủ tinh hoa từ cuộc sống
Hương mùa kết đọng những vần hay.
(Minh Thái)


(*) Chú thích: Bính âm 8 chữ cái đầu của 8 câu thành ra: Quốc Bình.


THÙY LINH
Thiếu nữ yêu kiều tỏa rạng không
Hồn nhiên rạng rỡ tuổi đang nồng
U sầu bấy gã còn mơ mộng
Yếu nhược bao người đã tưởng mong
Lảnh lót ca từ ai lỡ mọng
Im lìm ái sự kẻ đành trông
Nhìn em tựa thể nàng tiên sống
Hết cả đời tôi cũng chạnh lòng.
(Sông Lam)


(*) Chú thích: Bính âm 8 chữ cái đầu của 8 câu thành ra: Thùy Linh.

2b. Chiết Tự Khoán Tâm


Từ biến thể Chiết Tự Khoán Thủ có biến thể Chiết Tự Khoán Tâm.
Chiết Tự Khoán Tâm = Chữ cái trong tựa đề làm âm đầu cho các từ ngữ thứ 4 (từ trung tâm)
của mỗi câu thơ. Thường thì tựa đề là nhân danh hay địa danh. (Tâm = trung tâm, ở giữa).


QUỐC BÌNH

Đây, miền tổ quốc thật là xinh
Hết cảnh âm u sẽ rạng hình
Dạ ngẫm đời ôn vàn khó nhọc
Noi dòng trải cuộc mấy quang vinh
Lùa xuân vút bổng trời ân ái
Dỗ biến nằm im gió tự tình
Để bữa trăng ngời khi nắng hửng
Mai này thỏa hẹn ngõ bình minh.
(Nguyễn Quốc Bình)

Vĩ tam thanh (Vỹ tam thanh)


Theo Việt Nam Văn Học Sử Yếu (VNVHSY) của Dương Quảng Hàm,
Vĩ Tam Thanh (Vĩ = đuôi, Tam = ba, Thanh = tiếng) = Lối thơ mà 3 tiếng cuối cùng của
câu nào cũng phát âm giống nhau. Như vậy, ba từ cuối trong mỗi câu có cùng cách phát âm
(giống hệt nhau về âm vần nhưng khác thanh dấu).
Bài thơ tiêu biểu cho thể Vĩ Tam Thanh xuất phát đầu tiên từ Việt Nam Văn Học Sử Yếu:

VÔ ĐỀ

Tai nghe gà gáy tẻ tè te
Bóng ác vừa lên hé hẻ hè
Non một chồng cao von vót vót
Hoa năm sắc nở lỏe lòe loe
Chim tình bầu bạn kia kìa kỉa
Ong nghĩa vua tôi nhẹ nhẻ nhè
Danh lợi mặc ai ti tí tỉ
Ngủ trưa chưa dậy khỏe khòe khoe.

(Vô Danh Thị))

Trong "Phép Làm Thơ" ông Diên Hương đăng bài thơ từa tựa với tác giả là Tri Huyện Thư Điền.
Đây là bài thơ với những chữ khác bài trên trong VHSY.


TỰ GIÁC

Tiếng gà bên gối tẻ tè te
Bóng ác trông ra hé kẻ hè
Núi một tòa cao chon chót vót
Hoa năm sắc nở tóe tòe toe
Chim tình bằng hữu kia kìa kỉa
Ong nghĩa quân thần nhé nhẻ nhe
Danh lợi chưa hề ti tí tị
Ngủ trưa thức dậy khỏe khòe khoe.
(Tri huyện Thư Điền)

Trong "Thi Pháp Thơ Đường" ông Quách Tấn có đăng một bài thơ khác cũng gần giống như bài
thơ trong "Phép Làm Thơ" của Diên Hương và cho rằng tác giả là ông Nguyễn Thượng Hiền
(nhà cách mạng, là rể của ông Tôn Thất Thuyết). Bài nầy chỉ khác bài của Tri Huyện Thư Điền
vài chữ:

TỰ GIÁC

Tiếng gà bên gối tẻ tè te
Bóng ác trông ra hé hẽ hè
Non một tòa cao chon chót vót
Hoa năm sắc nở lóe lòe loe
Chim tình bậu bạn kia kìa kỉa
Ong nghĩa quân thần nhẹ nhẻ nhe
Danh lợi chưa hề ti tí tị
Ngủ trưa chưa dậy khỏe khòe khoe.
(Nguyễn Thượng Hiền)

Trong "Văn Uyển", Lãng Ba Phan Văn Bộ có chép tay một bài khác với tác giả là Án Sát Tôn
Thất Mỹ với tựa đề khác. Bài thơ nầy lại giống bài thơ trong VHSY của Dương Quảng Hàm chỉ
khác vài chữ.

NGẪU HỨNG

Tai nghe gà gáy tẻ tè te
Bóng ác vừa lên hé hẽ hè
Non một chồng cao von vót vót
Hoa năm sắc nở lỏe lòe loe
Chim tình bầu bạn kia kìa kỉa
Ong nghĩa vua tôi nhẹ nhẻ nhe
Danh lợi mặc người ti tí tỉ
Ngủ trừa trưa dậy khỏe khòe khoe.
(Án Sát Tôn Thất Mỹ)

"Thi Pháp Thơ Đường" có nói đến bài họa của Hoàng Giáp Đỗ Huy Liên nhưng chỉ có "Văn
Uyển" của Lãng Ba có chép tay toàn bộ bài họa nầy. Bài họa không theo nỗi thể Vĩ Tam Thanh.

NGẪU HỨNG (Họa)

Nhát trông sực thấy bóng buồn te
Tâm sự lao đao cuốc gọi hè
Mỏ thảm chẳng hề khua lóc cóc
Kèn than đâu đã tiếng tò loe (toe)
Đường thanh vân đó hoa chào nước
Vườn thượng lâm đâu nhạn nhắn nhe
Thủa bé biết nên nông nỗi thế
Ngàn vàng một chữ cũng không khoe.
(Hoàng Giáp Đỗ Huy Liên)

Chỉ có một bài thơ mà có 4 bản khác nhau với 3 bản được biết tác giả!Tuy nhiên Thi sĩ Đặng Xuân Quýnh có đến 2 bài Vỹ Tam Thanh khác nhau được chép lại trong "Văn Uyển" của Thi sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ:

CẢNH SÁNG

Người còn yên giấc khỏe khòe khoe
Ác đã chênh chênh hé hẻ hè
Cỏ lợt màu sương biên biếc biếc
Hoa đua sắc thắm tỏe tòe toe
Chim kêu lìa tổ chinh chình chích
Gà gáy gọi đàn tẻ lẻ te
Muôn vật gọi người kia kía kịa
Người còn yên giấc khỏe khòe khoe.
(Đặng Xuân Quýnh)

CẢNH CHIỀU

Bên đồn kèn đã tóe tòe toe
Cái bóng hoàng hôn lóe lỏe lòe
Chuột rúc quanh thềm chin chít chít
Muỗi bay ngoài cửa vẻ vè ve
Quyên kêu tìm tổ cuông cuồng cuốn
Dế hét gọi đàn bé bẻ be
Cảnh vật tiêu điều kia kía kịa
Cùng ai mà kể nhé nhè nhe.
(Đặng Xuân Quýnh)

Đạo Cao Đài ở Nam Kỳ có bài thơ "Vỹ Tam Thanh" bằng tiếng Hán của Thi hào Lý Bạch giáng
cơ. Bài nầy được một Hiền Tài của đạo Cao Đài dịch ra tiếng Việt cũng dùng thể Vỹ Tam
Thanh.

LÝ BẠCH THIÊN TIÊN GIÁNG BÚT THI

Lãn quan thế thái cạnh tranh hành
Sơn thủy nhàn du tỉnh tính tình
Lĩnh thụ sương hàm hoa quá quả
Cầm tuyền thủy khích thạch thành thanh
Mê đồ ta bỉ tiên tiền tiến
Phúc địa y thùy cánh cạnh tranh
Nhân thế dục cầu tri trí trị

Hồi đầu tảo táo thính kình khanh.
(Lý Bạch)

(Dịch Thơ)

Buồn xem cõi thế cảnh tranh dành
Non nước chơi qua tránh lạnh tanh
Cây núi sương pha hoa quá quả
Suối đàn nước, đá đánh thành thanh
Đường mê lắm kẻ đây đầy đấy
Cõi phúc nào ai tránh sánh danh
Cuộc thế muốn cho bình thịnh vĩnh
Quay đầu nghe sách thánh nhanh nhanh.
(Hiền Tài đạo Cao Đài)

Nơi hải ngoại, Bác sĩ Trương Ngọc Thạch cũng có bài thơ thể Vỹ Tam Thanh chế nhạo những
lão già về nước tìm "mèo" trẻ.

MẺO MÈO MEO

Giàu mà hà tiện bẻo bèo beo
Về nước tìm vui mẻo méo mèo
Bồ nhí chân dài deo déo dẻo
Ông già miệng khéo lẻo lèo leo
Lão hưu nhả của tèo teo tẻo
Mỹ nữ đòi tiền ẻo éo eo
Dọa nếu không cho: seo séo sẻo
Người hùng mặt tái méo mèo meo.
(Hp-Trương Ngọc Thạch)

Sau nầy có những thi sĩ cũng làm thơ theo biến thể Vĩ Tam Thanh, một biến thể rất khó làm:
MÀU TIỄN BIỆT

Cung rền nhạc tiễn vẻ vè ve
Phố lẫn màu hoa chóe chọe chòe
Bút gượng đôi vần cun củn cũn
Tay nhoài bốn mắt hỏe hòe hoe
Dản phông kỷ yếu tùm tum tụm
Chớp ảnh thời gian xóe xọe xòe
Biệt giã khung trời ngân ngấn ngẩn
Nghiêng mùa vỡ giọt tóe tòe toe.
(Nguyễn Quốc Bình)

Độc vận

Độc Vận = một bài thơ chỉ có 1 vần, nghĩa là chỉ dùng một từ cho tất cả các vần của bài thơ: 5
vần cho bài thơ Đường Luật bát cú đều dùng một từ. (Độc = một mình).

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm là người làm thơ Độc vận đầu tiên.
DẠI KHÔN

Làm người có dại mới nên khôn
Chớ dại ngây si chớ quá khôn
Khôn được ích mình đừng rẻ dại
Dại thì giữ phận chớ tranh khôn
Khôn mà hiểm độc là khôn dại
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn
Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại
Gặp thời, dại cũng hóa thành khôn.
(Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Tuy nhiên ngoài Biến thể Độc Vận, bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn phải dùng biến thể
Song ngữ. Đó là biến thể dùng 2 từ đi đôi và đối với nhau trong suốt bài thơ và trong đó có 1 từ
dùng làm vần (vận).

Như bài thơ trên của Nguyễn Bỉnh Khiêm, 2 từ là "Dại" và "Khôn" và từ "Khôn" dùng làm vận.

Bài thơ chỉ có biến thể Độc vận mà thôi xuất hiện đầu tiên trong những bài thơ giáng cơ của đạo.

KHÔNG LUẬN

Khán đắc phù sanh nhất thế không
Điền viên sản nghiệp diệc giai không
Thê nhi phụ tử chung ly biệt
Phú quí công danh tổng thị không
Cổ ngữ: vạn ban đô thị giả
Kim ngôn: bá kế nhứt tràng không
Tiền tài thâu thập đa tân khổ
Lộ thượng huỳnh tuyền lưỡng thủ không.
(Cao Đài Quan Âm Minh Kinh)

Một Hiền Tài của Đạo dịch thành tiếng Việt (cũng là bài thơ Độc vận).

LUẬN VỀ KHÔNG

Nhìn xem phù thế một tuồng không
Sản nghiệp ruộng vườn thảy hóa không
Chồng vợ cha con rồi cách biệt
Công danh phú quí rốt thành không
Lời xưa: muôn sự đều là giả
Nay kể: trăm mưu một lẽ không
Thâu vét bạc tiền bao khổ lụy
Suối vàng tới đó phủi tay không.
(BĐH dịch)


Biến thể Độc Vận có khi đi với biến thể Thũ vĩ ngâm:

CỜ VIỆT NAM

Không trung phất phới, vẻ vang kỳ!
Việt quốc nêu cao lá quốc kỳ
Chính chính da vàng chung một giống
Đường đường sọc đỏ hợp ba kỳ
Con Hồng nâng đỡ bằng bao cách
Cháu Lạc điểm tô biết mấy kỳ
Bốn bể năm châu đều rõ mặt
Không trung phất phới vẻ vang kỳ!
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)

Hạn vận

Hạn Vận = vần ra trước cho bài thơ. (Hạn = quy định). Như vậy 5 vần của bài Bát Cú đã định
trước theo đúng thứ tự cho những câu phải có vần.

Đây là những Hạn Vận thường được dùng:

không - chồng - trông - bông - lông

bồ - xô - cô - vô - rô ; xô - cô - vô - ô - rô
chung - mùng - lung - tung - bùng

gà - qua - nhà - bà - già ; qua - nhà - bà - gia - ta
bè - tre - che - le - the

ôi - thôi - rồi - nồi - xôi

lò - mò - lo - cho - trò ; co - giò - lo - cho - trò
âm - thầm - cầm - dầm - đâm

thằng - ăn - măng - nhăn - răng
voi- mòi - còi - roi - thoi


Những Hạn Vận hiếm thấy, thường là tử vận:
am làm băm xàm nàm

e bè le thè lè

chìu chiu tìu khiu riu

i lỳ ti ly mì; im lìm kim chìm bìm
len quèn chen nhen hèn

om sòm lom bom khòm
ô lồ xô vô mồ

ơ lơ mơ bơ xơ; ơm lờm bơm xơm lơm

u lù mù cu bù; um lùm xùm chum cùm; um thùm khum hùm hum

ư ừ thư cư lừ


*
Hạn vận bắt đầu từ xướng họa giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị. Để cho khó họa, ông
Tôn Thọ Tường thường dùng những tử vận. Hạn vận đa số là những tử vận (vận khó họa).

Hạn vận được biết đầu tiên là: "voi - mòi - còi - roi - thoi" bắt đầu từ bài Từ Thứ Qui Tào của
Tôn Thọ Tường, do đó nó còn có tên là Vận Từ Thứ. Người họa lại rồi dùng hạn vận giống vậy
để cho những đề tài khác là ông Phan Văn Trị.


TỪ THỨ QUI TÀO (Xướng)

Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi
Muối xát lòng ai nấy mặn mòi
Giúp Hớn hãy nhiều trang cột cả
Về Tào chi sá một cây còi
Bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén
Bát ngát thương vua biếng giở roi
Chẳng đặng khôn Lưu thà dạy Ngụy (*)
Thân nầy chi sá ngoại vòng thoi.

(Tôn Thọ Tường)


TỪ THỨ QUI TÀO (Họa)

Quá bị trên đầu nhát búa voi
Kinh luân đâu nữa để khoe mòi
Xăn văn ruổi Ngụy mây ùm đám (*)
Dáo dát xa Lưu gió thổi còi
Đất Hứa nhớ thân sa giọt tủi (*)
Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi (*)
Về Tào miệng ngậm như bình kín
Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi.
(Phan Văm Trị)


(*) Chú thích:

Lưu là Lưu Bị. Tào là Tào Tháo. Ngụy là Ngụy vương Tào Tháo.
Hứa là Hứa Xương. Tương là Tương Dương.

Ông Phan Văn Trị sau đó dùng hạn vận Từ Thứ cho 2 bài khác:

HÁT BỘI
Đứa mắc ghẻ ruồi đứa lác voi
Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi
Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc
Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi
Trên trính có nhà còn lợp lọng
Dưới chân không ngựa lại giơ roi
Hèn chi chúng nói bội là bạc
Bôi mặt đánh nhau cú lại thoi.
(Phan Văn Trị)

ĐỒN LÍNH TRONG LÀNG

Quan truyền tập thú tại mô Voi
Lòng nhắm chỗ mi đã phát mòi
Sớm đón ghe lên xin quít núm
Chiều ngăn thuyền xuống kiếm đưa còi
Tả biên nghiêm chỉnh chiêng cùng trống
Hữu dực phò trì giáo với roi
Dọa hẩm đàn bà nên quá giỏi
Nghe hơi ăn cướp chạy dường thoi.
(Phan Văn Trị)

Dùng hai bài thơ sau, ông Phan Văn Trị tỏ ý chê bai những người ra làm quan hay lính cho Pháp.

Hạn vận "Từ Thứ" nầy rất nổi tiếng ở Nam Kỳ trong thời Pháp Thuộc vào đầu thế kỷ 20 nên có
nhiều thi nhân dùng trong những đề tài khác:

HÚT NHA PHIẾN

Chẳng màng xe ngựa chẳng màng voi
Một điếu nha yên rất mặn mòi (*)
Lửa đỏ chi sờn con vắt nhọn
Khói đen nào nại ống tre còi
Mắt nhìn thể Lượng cơn xem sách (*)
Tao táo dường Vân lúc múa roi (*)
Cái nợ Hạ Châu nên rất ngặt
Ngày thâu đêm góp nhặt dường thoi.
(Vô Danh Thị)

(*) Chú thích:

Nha=đen. Yên=khói. Nha yên=khói đen (của thuốc phiện). Nha phiến=thuốc
phiện=opium.

Lượng là Gia Cát Lượng (Khổng Minh). Vân là Triệu Vân tự Tử Long, một võ tướng
cùng thời Tam Quốc. Vân còn có nghĩa là mây.

CON NÍT LẤY ÔNG GIÀ

Chim quyên bã đậu nhánh thoi voi
Mang lấy đầu ông chẳng mặn mòi
Phụng ước thung dung ăn trái trúc
Thỏ đâu cam toại ấp cây còi
Liên kiều thuớc bắc so le nhịp
Sơn giáp ngựa biên dục dặc roi
Loan chạ tử cô đành phận ấy
Kén lừa quân tử đáng ngàn thoi.
(Vô Danh Thị)

(*) Chú thích:

Có Tập danh của những vị thuốc Bắc trong mỗi câu: bã đậu, đầu ông, thung dung, cam
toại, liên kiều, sơn giáp, tử cô và quân tử

Có Tập danh của những động vật: quyên, mang, phụng, thỏ, thước, ngựa, loan và lừa.


GÁI LẤY ÔNG GIÀ

Thuyền quyên chỉ thiệt nết tề voi
Lừa bạch đầu ông trổ lấy mòi
Quân tử vò vè nhăn nớu (nướu) sún
Nữ trinh thỏ thẻ quẹt râu còi
Trang huê phấn nớ ưng trăm lượng
Sánh cốt bì nầy hổ một thoi
Chấp mối tơ thừa cam toại hẵng?
Vong linh Tiên Bửu vít (vết) còn roi. (*)
(Võ Hanh Thông)

(*) Chú thích:

Có Tập danh của những vị thuốc Bắc trong mỗi câu: chỉ thiệt, lừa bạch đầu ông, quân tử,
nữ trinh, huêphấn, cốt bì, cam toại và tiên bửu.

Truyện Lão Trượng Tiên Bửu có gái trẻ là Tiên Bửu lấy ông già là Lão Trượng.

*
Sau đó Hạn vận dùng 5 vần để bổ túc cho nội dung của bài thơ với những tựa đề khác
nhau.

- Hạn vận: ôi - thôi- rồi - nồi - xôi

VỢ KHUYÊN CHỒNG THÔI RƯỢU (Nguyên bản)

Nầy lời thỏ thẻ chút tình ôi
Bịnh rượu rày khuyên khá dứt thôi
Mình chớ ly bì nhiều độ quá
Em đây than thở mấy phen rồi
Nghĩ niềm kiều tử còn chưa trả
Bỏ tuyệt huê thôn mới đủ nồi
Vái thánh Lưu Linh đừng dựa nữa
Rồi đây thiếp sẽ cúng chè xôi.
(Cai Tổng Nguyễn Đạt Quyền)

VỢ KHUYÊN CHỒNG THÔI RƯỢU (Họa)

Ma men báo hại lắm chàng ôi
Nợ rượu tầm thường dục khổ thôi
Giống độc nòi hư truyền nhiễm mãi
Tên ve họ nhạo thảy cho rồi
Ly bì hết kể chi hông chỏ
Tự tỉnh còn hơn bịnh ống nồi
Trí thức sớm toan đường lợi hại
Ai từng không nếp đặng ăn xôi.
(Trà Giang Thôn Lão)

VỢ KHUYÊN CHỒNG THÔI RƯỢU (Họa)

Ngà ngà chi nữa tướng quân ôi
Dẫu tính bằng trời việc cũng thôi
Anh ngất ngưởng hoài đừng vậy chớ
Thiếp năn nỉ mãi dứt cho rồi
Nếu còn hiền thánh toan nâng chén
Chi khỏi nay mai phải hụt nồi
Nghĩ vợ Lưu Linh thêm tủi hổ
Vái thần bị gạt tốn gà xôi.
(Vô Danh Thị)


KHUYẾN TÌNH NHƠN

Vàng đá chi vầy bớ bậu ôi!
Mận đào nay đã chắc rằng thôi
Ong thừa hoa cũ không mong nữa
Bướm mến đèn tươi đã vướng rồi
Tòng bá lòng đây bao nỡ trách
Liễu bồ phận đó gắng nên nồi
Thìn lòng lăng líu tua bền nết
Chê nếp xin đừng đá đến xôi.

(Lê Uyên Sanh)

(*) Chú thích: Khuyến = khuyên. Thìn = gìn, giữ (tánh nết). Lăng líu=không minh bạch
GÁI CHỬA HOANG

Sẻ chơi anh én mấy lần ôi!
Khách bẻ huê (hoa) sen tượng ngán thôi
Óc ách dạ le thêm hổ mặt
Vỏ vàng mình ngọc mễn mang rồi
Còn chi cheo chéc hơi chồn cáo
Xện (?) chuyện hồng nhan quá lọ nồi
Cúm núm ba ô heo khoán ước
Phụng cò các nếp khó lừa xôi.

(Học sanh Thái)

(*) Chú thích:

Có Tập danh những động vật: sẻ, tượng, le, mễn, cheo, hồng, heo và cò.

GÁI LẤY THẦY CHÙA

Thế gian xâu thế nặng nề ôi!
Nên muốn thầy chùa dạ chẳng thôi
Tụng ít câu kinh đem bạc tới
Khua vài tiếng mõ có tiền rồi
Khâu y nhẹ tính bề may vá
Tương đậu khỏi lo việc bếp nồi
Chớ trách tu hành không lễ mễ?
Rằm ngươn hiếm hiệm chuối cùng xôi.

Đéo quả nhơn tình lạ lắm nà
Lẽ đâu có vợ đến thầy chùa
Gái khoe nhan sắc phềnh đùi ếch (*)
Sãi ráng tinh thần trợn mắt cua
Sớm tối am tiền gieo tiếng đẩu (?)
Tối vào liêu hậu lập bàn lùa
Ai từng đem gái làm dâu Phật
Phải có ông Hồ (?) bắt cả tua.
(Cử Thạnh)

(*) Chú thích: Phềnh=to phình ra.


CẢM THẾ TÌNH

Nghĩ đến sự đời tệ bấy ôi!
Suy đi xét lại tủi thầm thôi
Tiền tài dẫu trái cho nên phải
Nhơn nghĩa dầu ngay đánh bậy rồi
Mấy mặt không tiền ai giúp gạo
Nhiều tay có bạc kẻ có cho nồi
Thôi thôi ở thế thì theo thế
Bạc trắng nào ai chẳng biết xôi.
(Vô Danh Thị)


TÌNH ĐỜI

Chí khí anh hùng khó lắm ôi!
Công danh chẳng phải vậy mà thôi
Giang san ngàn dặm lòng chia đủ
Sự nghiệp muôn xe dạ tính rồi
Con đỏ chưa an người một giống
Nhà vàng còn rối bếp hai nồi
Nợ cừu sao nỡ chung trời đội
Không trả vì tham mấy vắt xôi.
(Ngọc Sơn)

- Hạn vận: cầm - dầm - đâm - lầm - thầm


LÃO CHÀI

Càng ngày xuôi ngược dễ ai cầm
Khảm vá chày quăng mé vịnh dầm
Cấn vác buồm loan tùy ý muốn
Chấn qua lái phụng mặc tình đâm
Tốn hao chi nại miền trăng gió

Ly lánh đừng mơ cuộc thế lầm
Khôn dại mặc ai chài, vãi, kéo
Đài mây thú vị cũng vui thầm.
(Lê Uyên

(*) Chú thích:

Có Tập danh của bát quái (8 quẻ): càng, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài.


MẸ GHẺ NUÔI CON CHỒNG

Cúm núm vì chàng một mối cầm
Tuy không mang nặng áo cơm dầm
Một lòng nuôi khắp công ơn lợt
Muôn việc lời không tiếng nói đâm
Cười kẻ nuôi ong mong trẻ hại
Hổ người đầu độc khiến cha lầm
Thuận tùng sẻ tín tình thương tưởng
Lừa khỏi ai chê dạ thẹn thầm.

(Học sanh Thái)

- Hạn vận: qua - nhà - bà- già - la


KHUYẾN HỌC

Ngày tháng như tên thắm thoát qua
Trường môn gắng ở mựa về nhà
Thang mây có thuở bia danh mẹ
Thẻ bạc nhằm khi nổi tiếng bà
Biển thánh ráng chèo đương lúc trẻ
Rừng nhu khó vượt buổi khi già
Thôi thôi kinh sử khuyên chăm chỉ
Mựa để cho thầy tiếng dạy la.

(Lê Uyên Sanh)

- Hạn vận: lò - dò - lo - cho - trò


ĐƯA CHỒNG ỨNG THÍ

Những thuở bên đông bóng mới lò
Đưa chồng xuống đó mảng mần mò (*)
Ngàn trùng cửa võ xin chàng gắng

Muôn việc nhà đơn mặc thiếp lo
Trướng phụng vui vầy chưa toại mấy
Sân rồng rạng tiết mới thơm cho
Một mai dầu đặng vin nhành quế
Tấm mẳn xin thương thuở học trò.
(Dị Nhơn)

(*) Chú thích: Mảng=đang

- Hạn vận: xô - cô - vô - ô - rô


TỰ THÁN

Song the chậu cúc nở lô xô
Ngoài nội còn nghe tiếng hít cô
Nhớ thuở Tiếu Lăng ngâm Ngọc Lộ
Tưởng hồi Cư Dị biệt Chi Vô
Trông ra mé bắc chờ tin nhạn
Đoái lại non đoài khuất bóng ô
Buồn dựa hiên tây đề ít luật
Hằng Nga đâu đã vẽ mày rô.
(Trần Phong Sắc)

- Hạn vận: không - chồng - trông - bông - lông

ĐẠO CÔ (Nguyên bản)

Trên đời nhơ bợn sạch dường không
Gái ngọc xưa nay chửa thấy chồng
Mang túi lưỡng nghi vừa chí tưởng
Quảy bầu bát bửu phỉ lòng trông
Chín năm diện bích phao trăng tuyết
Một thuở viên kỳ thớ trái bông (*)
So vởi họ Hà trang chẳng sút (*)
Như vầy ngàn nén sánh hơn lông.
(Long Khê Lão Sư)


(*) Chú thích: Thớ=đúng dáng vóc hay cung cách. Hà Tiên Cô: tiên nữ trong Bát Tiên.


ĐẠO CÔ (Tự họa)

Có có không không mặc có không
Có không chẳng tưởng huống chi chồng
Non nam đợi thỏ lòng càng mến
Biển bắc tầm ô dạ phỉ trông
Mùi đạo đã đành trăng với tuyết
Màu thuyền (thiền) chi kém lửa cùng bông
Nàng Lưu son phấn đâu nhường chí
Ngó lại trần hườn (hoàn) nhẹ mảy lông.
(Long Khê Lão Sư)

5a. Dĩ Đề Vi Vận


Dĩ Đề Vi Vận = Các Từ của tựa đề làm vần của bài thơ, thường là Hạn Vận của bài thơ như
"Không chồng trông bông lông". (Dĩ đề vi vận = lấy tựa đề làm vận).


Thông thường Hạn vận dùng bộ 5 vần bổ túc cho ý nghĩa nội dung của bài thơ theo tựa đề. Tuy
nhiên ông Nguyễn Khuyến còn dùng Hạn vận để làm tựa đề cho bài thơ. Biến thể lấy các từ của
tựa đề ra làm vần của bài thơ được gọi là Dĩ Đề Vi Vận. Trong lịch sử văn học chỉ có Dĩ Đề Vi
Vận từ Hạn vận và chỉ có một trường hợp điển hình là từ bài "Không Chồng Trông Bôngcủa ông Nguyễn Khuyến mà thôi.

Từ Hạn vận không chồng trông bông lông, ông Nguyễn làm bài thơ với tựa đề "Không Chồng
Trông Bông Lông" dùng hạn vận "không - chồng - trông - bông - lông". Và ông được nhiều
thi nhân Nam kỳ họa lại bằng chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỷ 20.

KHÔNG CHỒNG TRÔNG BÔNG LÔNG
 (Nguyên bản)

Bực gì bằng gái chực phòng không
Tơ tưởng ai chung một tấm chồng
Trên gát rồng mây ngao ngán nhẽ
Bên giời cá nước ngẩn ngơ trông
Mua vui lắm lúc cười cười gượng
Bán dại nhiều khi nói nói bông (*)
Mới biết có chồng như có cánh
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.
(Nguyễn Khuyến)

Thi nhân Nam Kỳ cũng làm thơ với cùng Hạn Vận và cùng Tựa Đề "không chồng trông bông
lông":

KHÔNG CHỒNG TRÔNG BÔNG LÔNG

Trăng già kia biết hởi cho không
Tủi phận hồng nhan thẹn chẳng chồng
Thi vịnh cao sơn ngao ngán đợi
Cầm xang lưu thủy ngậm ngùi trông
Hạ qua xót nỗi sen màu nhụy
Thu lại riêng sầu cúc đượm bông
Thả lá dầu may duyên gặp gỡ
Nặng là như núi nhẹ là lông.

(Lê Uyên Sanh)

KHÔNG CHỒNG TRÔNG BÔNG LÔNG

Duyên sao duyên khéo ở vầy không
Quạnh quẽ cho thân nỗi vợ chồng
Sớm dựa màng thêu ngơ ngẩn ngóng
Chiều nương trướng vẽ giật dờ trông
Thu tròn nay hản nhành khoe lá
Xuân hết thời e những rữa bông
Bình tước sẵn dành chờ kẻ bắn
Sợ chưa trúng mắt trợt ngoài lông.
(Đào Quế Tiên)

KHÔNG CHỒNG TRÔNG BÔNG LÔNG

Ai hỡi là ai có thấu không
Để cho đây luống chịu không chồng
Chiêm bao ông Hớn mơ màng nhắc
Đờn nhắn chàng Trương náo nức trông
Sông bạc cầu ô dầu gát nhịp
Bóng tòng giây cát sẽ đơm bông
Tiếng tơ ước gặp người tình khảy
Cũng nguyện đem mình chấp cánh lông.
(Nữ sĩ Trần Ngọc Lộ)


KHÔNG CHỒNG TRÔNG BÔNG LÔNG

Phụng giao chẳng gặp hổ mình không
Hồng nhạn kình gan vượn chập chồng
Phận các lóc lăn đau dạ thỏ
Cánh bàng ngào ngạt tượng lòng trông
Loan cầm cù cứa khôn mang nợ
Bào sẻ linh đinh chẳng lộc bông
Chờ khách lương nhân heo hắt phiện
Oan ương chim ấy khó lừa lông.
(Nữ sĩ Kim Xuyến)


(*) Chú thích: Nói bông = nói bông đùa. Hản=thỏa (dạ). Xang: 1 cung trong 5 cung (là hồ, xự,
xang, xê, cống).

Thi nhân Trung Kỳ cũng làm thơ cùng Hạn Vận và Tựa Đề "không chồng trông bông lông":
KHÔNG CHỒNG TRÔNG BÔNG LÔNG

Của đời ai có lại ai không?
Thưa chị sao em chẳng có chồng!
Ba bảy qua mai đà quá muộn
Mười hai bến nước những xa trông
Tại con thanh điểu đi lầm lối
Hay đóa đồ mi chậm trổ bông
Xuân hết thu qua chờ đợi mãi
Bạc đầu e nỗi quạ thay lông.
(Ưng Bình Thúc Giạ Thị)

KHÔNG CHỒNG TRÔNG BÔNG LÔNG

Chị em có cả, một mình không
Bán mấy nào ai biết giá chồng
Chín lớp trồi đầu trời cũng muốn
Bốn mùa mỏi mắt đá còn trông
Quá rằm trăng dễ tròn hin bóng
Lỡ lứa cây đà trắng toát bông
Ông huyện Ba La dầu gặp gỡ (*)
Tương tư một gánh nhẹ bằng lông.
(Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ)

KHÔNG CHỒNG TRÔNG BÔNG LÔNG

Nghĩ nỗi tơ duyên há nhẽ không?
Bơ vơ bến nước biết ai chồng?
Màn loan lạnh lẽo năm canh đợi
Khúc phụng mơ màng bốn bể trôngNon đóng rêu xanh mòn mỏi đá
Dòng trôi lá thắm ngậm ngùi bôngBiết đâu mà hỏi Ba La huyện (*)
Không hở tình riêng chút mảy lông.
(Mộng Phát Tôn Thất Diệm)

(*) Chú thích: Huyện Ba La có xã Bông Lông (ở Trung Kỳ nhưng không biết thuộc tỉnh nào).

5b. Hạn Vận của Trung Hoa

Theo văn học sử của nước Việt ta, Hạn vận là vần ra trước cho bài thơ. Như vậy 5 vần của bài
Bát Cú đã định trước theo đúng thứ tự cho những câu phải có vần.

Hạn vận bắt đầu từ xướng họa giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị. Để cho khó họa, ông Tôn
Thọ Tường thường dùng những tử vận. Hạn vận đa số là những tử vận (vận khó họa).

Hạn vận được biết đầu tiên là: "voi - mòi - còi - roi - thoi" bắt đầu từ bài Từ Thứ Qui Tào của
Tôn Thọ Tường.

Thật ra nguồn gốc của biến thể Hạn vận từ bên Trung Quốc đã có từ thời Minh Võ Tông (niên
hiệu Chánh Đức) và Hạn vận có nghĩa rộng hơn cũng như qui luật khó hơn.

Hạn = ra trước 8 chữ ở mỗi đầu câu.
Vận = ra trước một bộ vận cho 5 vần.

Hạn vận bắt đầu từ thơ Hán ngữ bên Trung Quốc. Vua Chánh Đức của nhà Minh ra bài thơ với:
Hạn: võ tư phong phiếm yên ba họa thuyền

Vận: Khê tê kê tề đề.

Đây là bài thơ Hán ngữ theo Hạn vận nầy của Ngô Thoại Sanh:


KHUÊ ỨC
Võ yết thiên không nguyệt mãn khê
Tư khiên hồn mộng đáo Liêu Tê
Phong tình nguyệt ý duy bằng lý
Phiếm võ chích vân chỉ yểm kê
Yên tỏa xuân sơn dung dị lão
Ba ngưng thu thủy mị nan tề
Họa mỹ nhân khứ trang đài lãnh
Thuyền thượng cô lâu chi cọng đề.

(Ngô Thoại Sanh)


(*) Chú thích:

Liêu Tê: đọc đúng là Liêu Tây

Ý của câu 5: Hòn núi mùa xuân ở xa, coi màu dợt, như lông mày người thục nữ
Ý của câu 6: Nước mùa thu trong vắt cũng như con mắt của người con gái đẹp

Lâu = sợi dây lèo. Cô lâu = miếng cây có lỗ , có vô lèo bườm, nếu bườm trở thì lèo trở
theo, ghịt với nhau kêu két két...

Chữ Kỳ đọc "kỳ" thì có nghĩa "đất đai" còn đọc "chi" thì có nghĩa là "chỉnh".


(Dịch)

Mưa lạnh trời thanh trăng chói khe
Tơ giăng giấc mộng đáo Liêu Tê
Gió tình mưa ý hồng bay bổng
Tấm nguyệt vần mây cá lội chầy
Khói tỏa mày xanh màu dễ lợt
Sóng tuôn tròng bạc sáng không hay
Vẽ mày hỏi kẻ ngoài muôn dặm
Thuyền trở lèo kêu lụy nhỏ đầy.
(Trần Phong Sắc dịch)

Bát Vĩ Đồng Âm

Bát Vĩ Đồng Âm = chữ cuối của 3 câu không vần là âm trắc nhưng cũng "đồng âm" với những
những vần bằng của 5 câu kia (cho bài thơ Bát Cú). (Bát = 8. Vĩ = đuôi. Bát vĩ là 8 chữ cuối
của 8 câu).

Đây cũng là biến thể xuất hiện sau 1975.


KHÔNG DUYÊN (Nguyên bản)
Ai khều nắng hạ rớt vào đông
Để tiếng ve kêu não ánh hồng
Tuyết đọng âm thầm xui dạ ngóng
Sương tràn lặng lẽ khiến lòng mong
Nhìn mây kết vận nghiêng đầu sóng
Ngó cảnh thuyền trôi rẽ cuối dòng
Bút trải ngôn tình mưa đảo giọng
Lem hồn giấy mực buổi chiều giông.
(Hảo Mặc Nhiên)

(*) Chú thích: 3 chữ cuối câu có âm trắc là "ngóng, sóng, giọng" đồng âm với 5 vần là "đông,
hồng, mong, dòng, giông".

GIỮA PHỐ ĐÔNG NGƯỜI (Họa)

Mỏi bước chen người giữa phố đông
Chiều buông giọt nắng đã phai hồng
Trời mây bảng lảng đôi lần ngóng
Gió bụi mơ hồ một thoáng mong
Chẳng biển, mà nghe bờ dội sóng
Không sông, vẫn thấy nước tuôn dòng
Âm sầu vạn cổ hoài ngân vọng
Nỗi nhớ xô đời dậy bão giông…
(Lãng Phong Lý Đức Quỳnh)


(*) Chú thích: 3 chữ cuối câu có âm trắc là "ngóng, sóng, vọng" đồng âm với 5 vần là "đông,
hồng, mong, dòng, giông

Triết hạ


Triết hạ = Từ ngữ cuối của mỗi câu thơ để lửng làm cho câu thơ chưa trọn nghĩa (câu thơ chưa
trọn nghĩa chứ không phải là tự ý ngắt các từ ghép hay từ láy), nhưng người đọc vẫn có thể hiểu
rõ hoặc có thể thêm vào những phương án của riêng mình.

Bài thơ theo biến thể Triết hạ đầu tiên rất nổi tiếng là của ông Nghè Nguyễn Quý Tân:

THẤY GÁI HỒNG NHAN

Thấy gái hồng nhan bỗng chút mà...
Hỏi thăm cô ấy chửa hay đà...
Hình dung yểu điệu in như thể...
Diện mạo phương phi ngó tưởng là...
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn...
Nói năng phải lẽ giống con nhà...
Ước gì ta được mà ta để...
Ta để đem về đặng nữa ta...
(Nguyễn Quí Tân)

Tuy nhiên, Diên Hương và Quách Tấn, 2 thi sĩ kỳ cựu của thơ Quốc ngữ, có định nghĩa rộng
hơn.

Triết hạ (theo Diên Hương) = Một bài thơ thất ngôn mà câu nào cũng không trọn ý,
nhưng mà người đọc vẫn hiểu tác giả còn muốn nói gì thêm.

Triết hạ (theo Quách Tấn) = Toàn thiên, câu nào cũng bỏ lửng, không trọn ý, song độc
giả vẫn hiểu được tác giả muốn nói gì.

(Triết = sáng suốt. Hạ = ở dưới. Hiện đại, các học giả dùng từ ngữ "Triệt hạ" có lẽ không đúng
nghĩa bằng "Triết hạ". Triệt hạ = giảm bớt xuống = to abate).

Do đó có thi sĩ làm mỗi câu không những không trọn ý ở cuối câu mà còn không trọn ý ở giữa
câu tức là mỗi câu có đến 2 phần không trọn ý.

HOA NÔ TRÁCH THÚC SINH

Nguyền ước vân vân..., những tưởng là...
Bể tình trót đã..., biết đâu là...
Đắm mê nầy khác..., cho nên cũng...
Buồn tủi nọ kia..., quả thật là...
Ghen dẫu sao sao..., cam chịu bởi...
Yêu mà vậy vậy..., đáng chê là...
Đọa đày ngần ấy..., mần răng chẳng...
Có tính chi chi..., mới họa là...

(Lãng Ba Phan Văn Bộ)

7a. Vấn Nghi

Từ Triết Hạ có biến thể Vấn Nghi từ sau 1975.
Vấn Nghi = mỗi câu đều mang ý câu hỏi ở cuối câu (có thể kết hợp với lối triết hạ để tạo ra
câu hỏi bỏ lửng). (Vấn = hỏi. Nghi = nghi ngờ).

CÓ VỌNG SANG MÙA

Rạng rỡ mi ngời em có phải... ?
Hồn say luyến nhớ rồi hay tại... ?
Mơ lời cột thắm, chỉ nào đang... ?
Hỏi ý thêu nồng, duyên nọ mãi... ?
Có đặng niềm thương để trỗ làn... ?
Và lay dấu nguyện cho hừng trái... ?
Muôn dòng nhắn nhủ đã tìm gieo... ?
Quyện với hương ngàn, hoa sẽ trải... ?
(Nguyễn Quốc Bình)

Hoàn Cú - Chuyển Vỹ Hồi Văn


Hoàn Cú (Hườn Cú) = một hay hai chữ chót của câu trên làm một hay hai chữ đầu của câu
đưới, như vậy cho đến câu cuối. (theo Diên Hương). (Hoàn = Hườn = trở về, trả trở lại). Như
vậy, biến thể dùng từ cuối của câu trên làm từ mở đầu của câu dưới. (Theo Diên Hương)


Ông Lê Quang Chiểu là người đầu tiên xử dụng biến thể Hườn cú nầy với bài thơ dùng hườn cú
bằng từ kép (lặp lại 2 chữ):


TỰ THUẬT

Cùng thế chi hơn bẳng có tiền
Có tiền sung sướng cũng như tiên
Như tiên bởi đặng mình làm chủ
Làm chủ cho nên mới có quyền
Có quyền muốn thế thì nên thế
Nên thế cầu duyên ắt thắm duyên
Thắm duyên bởi đặng quyền cùng thế
Cùng thế chi hơn bẳng có tiền.

(Lê Quang Chiểu)


Con của ông Lê Quang Chiểu là ông Thường Tiên Lê Quang Nhơn dùng từ đơn cho biến thể
Hườn cú:


BI NGỘ

Mối thảm vì đâu lại vấn vương
thêm rối rắm mối tình thường
đem tâm sự vui mơ mộng
thấy niềm riêng gởi gió sương
đọng đầu ngành in ánh ngọc
nằm kẹt đá ẩn danh hương
hoa muôn dặm khuây lòng kẻ
Sở người Tần tỏ mấy chương.
(Thường Tiên Lê Quang Nhơn)


Ông Lê Quang Chiểu bắt đầu biến thể Hườn cú cho thơ Đường Luật do bị ảnh hưởng bởi biến
thể Hườn cú trong thể thơ Song Thất Lục Bát được ông Trương Minh Ký áp dụng trong thi phẩm
Như Tây Nhựt Trình của ông.

Đây là những câu cuối của Như Tây Nhựt Trình dùng biến thể Hườn cú:
Theo sách dạy khó nghèo bỡi số,
Số khiến nên giàu có tại Trời.
Tại Trời song cũng có người,
Có người gặp vận đắc thời giàu to.
Giàu to cũng muốn cho có nữa,
Có nữa thì hằng bữa nhọc lo.
Nhọc lo của cải bo bo,
Bo bo cũng bỡi Trời cho giữ tiền.
Giữ tiền được làm nên giàu có,
Giàu có người hay bố thí ra.
Thí ra cho kẻ bần gia,
Bần gia cầu khẩn cho ta giàu đời.
Giàu đời được bỡi Trời xuống phúc,
Xuống phúc cho tới lúc cháu con.
Cháu con dỏi nối tông môn,
Tông môn tỏ rạng tiếng đồn gần xa.
Gần xa biết lòng ta nhơn đức,
Nhơn đức nầy nhờ bực thánh hiền.
Thánh hiền vốn bỡi người nên,
Người nên thông thái tại chuyên học hành.
Học hành được mới sanh trí hóa,
Trí hóa bày cũng lạ trong đời.
Trong đời lập thế thâu lôi,
Thâu lôi cho khỏi đánh người thế gian.
Người thế gian bảy ngàn vẹo mấy,
Mấy người tài bày máy móc ra.
Ra công cứu giúp nguời ta,
Người ta ai cũng gọi là người hay.
Người hay ấy hay bày ra chuyện,
Ra chuyện làm vì miệng phải ăn.
Phải ăn phải ở có ngằn,
Có ngằn có nết mới rằng người khôn.
Người khôn phải cho tròn nhơn ngãi,
Nhơn ngãi tròn mới phải giàu sang.
Sang đàng nói lắm nổi gan,
Nổi gan làm đến hai ngàn câu thôi!
(Trương Minh Ký)


*
Hoàn Cú (Hườn Cú) = Chuyển Vỹ Hồi Văn (theo Quách Tấn).

Ông Quách Tấn gọi biến thể Hườn Cú của ông Diên Hương là biến thể Chuyển Vỹ Hồi Văn với
cùng một định nghĩa. (Vỹ = vĩ = đuôi).

Ông đưa ra bài thơ của Lê Quang Chiểu làm thí dụ và cho rằng tác giả là Án sát Tôn Thất Mỹ.
Điều này có thể không đúng vì biến thể nầy xuất hiện ở Nam Kỳ từ Trương Minh Ký và Lê
Quang Chiểu là học trò của Trương Minh Ký.

Ông Quách Tấn cũng đưa ra một bài thí dụ khác của Nguyễn Công Trứ nhưng bài thơ nầy không
biết theo thể gì vì có 6 câu và mỗi câu 7 chữ (và không đúng định nghĩa của theo biến thể này).

VÔ ĐỀ

Ta ở nhà ta ta nhớ mi
Nhới mi nên phải vội ra đi
Không đi mi hỏi sao không đến
Có đến mi bảo đến làm chi
Làm chi ta đã làm chi được
Làm được ta làm chán vạn khi.
(Nguyễn Công Trứ)

8a. Tuần Hoàn Bất Tận Thi

Tuần Hoàn Bất Tận Thi = Trong một bài thơ theo biến thể Hoàn Cú (Hườn Cú), nếu ta xử
dụng từ vần của câu thứ tám làm từ mở của câu thứ nhất thì được gọi là "Tuần hoàn bất tận thi".


TRÊN CÁNH ĐỒNG CHIỀU
Đồng ươm nắng tỏa vút tia hồng
Hồng ửng môi cười lấp lóa đông
Đông gỡ mành sương tròn vị giá
Giá tan rặng cỏ đẫy hương nồng
Nồng nàn thảm lúa khơi màu rộn
Rộn rã tay liềm thỏa giấc trông
Trông ánh tương lai hòa nhịp trẻ
Trẻ thơ tiếp giọng hát vang đồng.
(Nguyễn Quốc Bình)

8b. "Nghịch" Hườn Cú


Trong Văn học cũng có biến thể bất thành văn cũng rất hiếm gọi nôm na là "Nghịch" Hườn Cú
như bài "Đăng Yên Thế Lộ" của Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm:
Nghịch Hoàn Cú (Nghịch Hườn Cú) = 2 chữ (từ) đầu của câu sau là nói lái của 2 chữ (từ) cuối
của câu trước. (Nghịch = ngược, ngược lại).


ĐĂNG YÊN THẾ LỘ ĐƯỜNG LÊN YÊN THẾ

Hà sạ phân vân thuyết lộ ky (cơ) Dùng dắng làm chi để lộ mưu
Kỵ lô tương tố một tương tùy Cưỡi lừa ngoảnh lại chẳng người theo
Tuy tường thiên nhận do ngu nạn Dẫu bay nghìn dặm còn lo nạn
Nan ngụ cô sơn tác trụ trì Khó sống nhiều năm mãi đỉnh đèo
Trị trù thả học Y tiên giác Hãy học thầy Y tài tính liệu
Dương tiết nan phù Hán cố ky (cơ) Mong phò nhà Hán cảnh gieo neo
Ký cô thác tích canh sừ hạ Tạm thời ẩn náo vui cày cấy
Hà sự phân vân thuyết lộ ky (cơ). Dùng dắng làm chi để lộ mưu.
(Kỳ Đồng) (Đỗ Quang Liêm dịch)


(*) Chú thích:

Những chữ "nói lái" như: "lộ ky" thành ra "kỵ lô"; "tương tùy" thành ra "tuy tường"...

Bài thơ “Đăng Yên Thế Lộ” còn gọi là “Thiên Lý Du Du” tuyên truyền người lên Yên Thế đầu
quân với ông Hoàng Hoa Thám.

Văn học quốc ngữ trong dân gian Nam Kỳ cũng có những bài theo biến thể như trên:
VIẾNG HÒN CHỒNG

Ất Sửu ngày xuân viếng Đá Chồng

Đống chà ven biển có ai trông?
Ông trai leo núi e mòn đá
Mà đón ai kia má ửng hồng.
(Hồ Cơ)

Phá lục


Phá Lục = mấy câu sau thì 7 chữ duy có câu đầu thì chỉ có 6 chữ mà thôi (trong bài thơ thất
ngôn), nôm na là "phá câu 7 chữ thành câu 6 chữ".

Ông Huỳnh Mẫn Đạt dùng biến thể Phá Lục đầu tiên trong thơ chữ Nôm.


VỊNH TRÂU GIÀ
Một nắm xương, một nắm da
Bao nhiêu cái ách cũng từng qua
Đuôi cùn biếng cột Điền Đơn hỏa
Tai nặng buồn nghe Nịnh Tử ca

Sớm dạo vườn Nghiêu ăn hủng hỉnh
Tối về nội Võ thở hê ha

Ngày xưa mắc phải nơi Đường Hạ
Ơn có Tề vương cứu lại tha.
(Huỳnh Mẫn Đạt)

Ông Quách Tấn dùng biến thể Phá Lục đầu tiên trong thơ chữ Quốc ngữ ở Trung Kỳ.
MỘNG THẤY HÀN MẶC TỬ
Ơi Lệ Thanh! Ơi lệ thanh!
Một giấc trưa nay lại gặp mình
Nhan sắc châu pha màu phú quí
Tài hoa bút trổ nét tinh anh
Rượu tràn thú cũ say sưa chuyện
Hương tạ trời cao bát ngát tình
Tôi khóc tôi cười vang cả mộng

Nhớ thương đưa lạc gió qua mành.
(Quách Tấn)


Học sanh Lạc hay gọi tắt là Học Lạc (1842-1915) dùng biến thể Phá Lục đầu tiên trong thơ chữ
Quốc ngữ ở Nam Kỳ.




NGỒI TRĂNG
Hóa An nam, lứ khách trú
Trăng trói lăng xăng nhau một lũ
Ngoài mặt ngỡ ngàng lạ Bắc Nam
Trong lai cắc cớ xui đoàn tụ
Bợm làng chẳng vị sĩ năm kinh
Ông Bổn không thương người bảy phủ
Phạt tạ xong rồi trở lại nhà
Hóa thời hốt thuốc lứ bông vụ.
(Học sanh Lạc)




(*) Chú thích:

Trăng là trăng trói, bị bắt đóng nọc

Tiếng Tiều châu: Hóa là tôi, lứ là anh (tiếng Tiều châu). Lai là tai nạn. Bợm láng là người
học trò giỏi. Ông bổn là thầy ngồi dạy học.

Bảy phủ là bảy bang Huê kiều ở miền Nam.


Trốn vận


Trốn Vận = câu đầu của bài bát cú không có vần và vần bắt đầu với câu thứ hai và câu đầu phải

đối với câu thứ hai.


Biến thể nầy giống như bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Trong thơ chữ Quốc ngữ, ông
Quách Tấn làm bài thơ theo biến thể này đầu tiên.



ĐÊM TÌNH
Giấc thắm tình duyên non gối nước
Màn sương để lọt ánh sao băng
Hồn hoa chợp mộng thơm hồn gió
Tóc liễu dùng thơ đón tóc trăng
Muôn điệu tơ lòng run sẽ sẽ
Nửa vời sóng nhạc nhẹ lâng lâng
Phòng hương thương kẻ ngồi nương triệu
Tình gởi mây xa lệ ngập ngừng.

(Quách Tấn)



Tuy nhiên 2 câu thơ đầu của bài thơ trên (cặp Đề) của Quách Tấn thật ra không đúng với luật của
biến thể vì không đối.
Theo đúng luật, nếu là bài thơ Bát cú "trốn vận", phải đảm bảo ba cặp đối gồm cặp Đề, cặp Thực
và cặp Luận.

Theo biến thể "Trốn Vận" cho một bài bát cú phải có 2 điều kiện chứ không phải có 1 điều kiện
như Quách Tấn:

Câu đầu của bài bát cú không có vần và vần bắt đầu với câu thứ hai.

Cặp Đề (2 câu 1 và 2); cặp Thực (2 câu 3 và 4) và cặp Luận (2 câu 5 và 6) đều phải có Đối.

Tô Chẩn trong khi dịch thơ trong truyện Tây Du ký đã có bài thơ theo đúng biến thể Trốn Vận
với cặp Đề đối nhau


VÔ ĐỀ
Lòng thiền tợ nguyệt không mà rạng
Thi tứ như trời mới lại thanh
Cầu nhiệm có duyên tày gấm tốt
Diệu hay chẳng vít sánh châu lành
Sáu trào sơ thử văn chương lấn
Bốn thể chia ra nhã tụng rành
Nước chửa kịp sôi năm vận đủ
Ngâm qua mát mẻ cả thân mình.
(Tô Chẩn dịch)

Ngày nay, thi nhân cũng làm theo đúng như Tô Chẩn:

CHIỀU NGANG XÓM CŨ
Đạp nước, con chuồn lay ngấn ảnh
So diều, cánh nhạn vỗ tầng không
Mùa hăng gió quẩn đầy tia mắt
Vị ngát chân in nửa quãng đồng
Trước sảnh cau già thưa nụ trỗ
Bên rào chuối kẹ vắng người trông
Vầng trăng lấp ló chiều quen dội
Ánh quyện hình xưa bếp lửa hồng.
(Nguyễn Quốc Bình)


Đây là bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu theo biến thể "Trốn Vận" nhưng thất luật vì 2 câu

đầu (cặp Đề) không đối nhau:


HOÀNG HẠC LÂU (Nguyên bản)
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tái không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Thôi Hiệu)


Đây là bài thơ họa cũng dùng Hán ngữ nhưng theo đúng biến thể "Trốn vận" với cặp Đề đối
nhau:


HOÀNG HẠC LÂU (Họa)
Thần tiên xuất thế kỵ hoàng hạc
Nhân loại lụy trần tạo mỹ lâu
Thắng cảnh nhãn tiền thi nhã hứng
Kỳ quan thiên hạ khách nhàn du
Thanh danh tự cổ truyền Tam Quốc
Huyền thoại chí kim bá Ngũ Châu
Ngoạn mục cảm tình an lạc thú
Văn chương đắc đạo bất tri sầu.
(Phan Thượng Hải)

Cô nhạn nhập/xuất quần


Theo đúng biến thể mới nầy, câu thơ đầu hoặc câu thơ cuối có vần khác với những vần còn lại
(ví như con chim nhạn lẻ loi nhập vào đàn hay tách khỏi làn), tại vì những từ cùng vần không đủ
sức diễn tả ý thơ mà lại không muốn thay đổi bộ vần. Tuy khác cước vận nhưng khéo léo kết
hợp với eo vận của câu thơ liền kề để tạo ra sự nhịp nhàng về âm điệu và tiết tấu.
Cô nhạn nhập quần = câu thơ đầu có vần khác với những vần còn lại.
Cô nhạn xuất quần = câu thơ cuối có vần khác với những vần còn lại.
Cô nhạn nhập quần: câu thơ đầu có vần khác với những vần còn lại.

CHUYẾN ĐÒ TÌNH

Thuở ấy chung về một bến sôngLàm quen, bước sải trống tim dồn
Ưng thầm đó vẽ cong nhành liễu
Hỏi khẽ đâu nhà ngược phía thôn
Nụ mắt hồ xao thành sóng gợn
Bờ vai tóc thả đoán hương tồn
Khi nào rượu nghĩa môi kề nhỉ?
Bẽn lẽn em rằng phút hợp hôn!
(Nguyễn Quốc Bình)




Cô nhạn xuất quần: câu thơ cuối có vần khác với những vần còn lại.
HOÀNG HÔN NHỚ

Buông dài vệt nắng cửa hoàng hôn
Lữ khách về ngang bước mỏi dồn
Gió trở đông gầy hoe cuộng lá
Sương đùn cỏ úa sậm triền thôn
Thời gian chẳng thốt mà đi biệt
Kỷ niệm hằng ghi cũng để tồn
Vén mảnh lam chiều tay gợn khẽ
Gom đầy sợi nhớ kẻ nhoài trông!
(Nguyễn Quốc Bình)


Biến thể Cô Nhạn Nhập Quần và Cô Nhạn Xuất Quần chỉ xuất hiện sau năm 1975. Nó làm giảm
giá trị của bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú nên thi nhân chân chính không thích áp dụng.

Yết Hậu

Yết Hậu = câu chót của bài ĐL tứ tuyệt chỉ có 1, 2 chữ vận mà thôi còn 3 câu đầu thì đủ chữ (7
chữ cho thất ngôn và 5 chữ cho ngũ ngôn). Đây là định nghĩa của biến thể Yết Hậu Thi, thường
gọi tắt là Yết Hậu. (Yết = hết. Hậu = sau. Yết Hậu = sau hết).

Phép Làm Thơ của Diên Hương (trang 125 và 126) viết:

Thơ Yết Hậu là một biến thể của Thơ Đường Luật. Bài thơ thường có 4 câu (ĐL Tứ
tuyệt); 3 câu đầu đủ chữ: 7 chữ (thất ngôn) hoặc 5 chữ (ngũ ngôn); còn câu chót chỉ có 1 chữ


Ông Phạm Thái vào cuối đời nhà Hậu Lê sáng tạo ra biến thể Yết Hậu với ba dạng chính:
Dạng 1: Bài thơ Yết Hậu với chỉ một đoạn Tứ tuyệt (có câu cuối là một chữ vận mà thôi):



TỰ TRÀO

Sống ở dương gian đánh chén chè
Chết về âm phủ cắp kè kè

Diêm vương phán hỏi rằng chi đó
Be! ...

(Phạm Thái)



Dạng 2: Bài thơ Yết Hậu có nhiều Đoạn tuyệt cú (với 1 chữ vận ở câu thứ tư) không cần phải
mượn sự đối thoại.

BỢM RƯỢU (SAY RƯỢU NHÈ)

Sống ở nhân gian đánh chén khè
Trăm năm ngày thác giữ đầy be
Diêm vương phán hỏi rằng ai đó
Nhè! ...

Sống ở nhân gian đánh chén say
Trăm năm ngày thác giữ be đầy
Diêm vương phán hỏi rằng ai đó?
Say! ...



Dạng 3: Bài thơ Yết Hậu gồm nhiều đoạn Tứ tuyệt đối thoại giữa những nhân vật khác nhau như
"Cha con vợ chồng":

CHA CON RƯỢU CHÈ CỜ BẠC

Cha mắng Con cờ bạc:

Ác lặn, xăm xăm tới
Gà kêu, lẻn lẻn về

Quan ngắn hết, quan dài hết
Ghê! ...

Con trách Cha nghiện rượu:
Một năm mười hai tháng
Một tháng ba mươi ngày
Hủ lớn cạn, hủ bé cạn
Say! ...

Vợ than nỗi Chồng Con:

Trông lên nhà đổ đoạn
Trông xuống vách tan rồi
Cha thế ấy, con thế ấy
Thôi! ...

(Phạm Thái)

Thi Pháp Thơ Đường của Quách Tấn (trang 376) viết:

Yết Hậu là một lối biến thể của Thơ Đường Luật: câu cuối chỉ có một chữ hoặc hai.

Lối nầy thường là Thơ Tuyệt cú.

ÔNG TÁO

Hăm ba ông táo dạo chơi xuân
Đội mũ mang hia chẳng mặc quần
Thượng đế hỏi sao ăn mặc thế?
Duy tân.
(Khuyết danh)

Tản Đà làm bài thơ Yết Hậu có tới 5 câu thay vì 4 câu: 4 câu đầu là Đường Luật Tứ Tuyệt và
câu thứ năm có 2 chữ gồm 1 chữ vận.

GÀ THIẾN

Gà thiến muốn đi tu
Chưa thuộc tiếng nam mô
Cửa Phật chắc không hẹp
Cho nhờ chỗ bóp bu

Cúc cu.
(Tản Đà)

Thủ Vĩ Ngâm

Thủ Vĩ Ngâm (Thủ Vỹ Ngâm) = câu đầu và câu cuối của bài thơ lặp lại giống nhau. (Thủ =đầu. Vĩ = vỹ = đuôi).
Biến thể nầy xuất hiện đầu tiên từ bà Hồ Xuân Hương vào đời nhà Hậu Lê.

KHÓC ÔNG PHỦ VĨNH TƯỜNG

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!
Cái nợ trần gian đã hết rồi
Chôn chặt văn chương ba tấc đất
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời
Đòn cân tạo hóa đà rơi mất
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!
(Hồ Xuân Hương)

Ngoài biến thể Thũ Vĩ Ngâm, bài thơ còn có Độc vận:


CỜ VIỆT NAM

Không trung phất phới, vẻ vang kỳ!
Việt quốc nêu cao lá quốc kỳ
Chính chính da vàng chung một giống
Đường đường sọc đỏ hợp ba kỳ
Con Hồng nâng đỡ bằng bao cách
Cháu Lạc điểm tô biết mấy kỳ
Bốn bể năm châu đều rõ mặt
Không trung phất phới vẻ vang kỳ!
(Lãng Ba)


Một dạng biến tấu (từ sau 1975) của biến thể Thủ Vĩ Ngâm là câu cuối lặp lại câu đầu nhưng


BÀN TAY TẠO HÓA

Tạo hóa vươn tay điểm địa cầu
Vo tròn, bóp dẹp, bấm nông sâu
Sơ khai chốn chốn chim mông muội
Khởi tiếp nơi nơi bật mỡ màu
Định sẵn hai phương liền một trục
Phân rành bốn biển rõ Năm Châu.
Khi nào ngán cảnh đời xâu xé
Tạo hóa buông tay... thả địa cầu.

(Nguyễn Quốc Bình)

13a. Thủ Vĩ Điệp Vận


Từ Thủ Vĩ Ngâm có Thủ Vĩ Điệp Vận.
Thủ Vĩ Điệp Vận = điệp vận ở câu đầu (thủ) và câu cuối (vĩ) của bài thơ.

Biến thể nầy được thấy đầu tiên từ bài thơ "Thăng Long Hoài Cổ" của Bà Huyện Thanh Quan vào thời đầu nhà Nguyễn.


THĂNG LONG HOÀI CỔ

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

(Bà Huyện Thanh Quan)




Vì đã có biến thể Thủ Vĩ Ngâm nên biến thể nầy không có gì mới lạ và không gây tranh cãi.

Tung Hoành Trục Khoán

Tung Hoành Trục Khoán =Dùng cặp câu đối làm chủ đề cho bài thơ (mỗi câu có 7 chữ hay thất ngôn).

Các từ trong vế thứ nhất làm từ đầu tiên cho các câu thơ từ 1 đến 7 (trục tung); nguyên vế
thứ hai đặt làm câu thứ 8 (trục hoành).

(Tung = đường thẳng dọc. Hoành = đường thẳng ngang).




Thí dụ 1
Cặp câu đối:

Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào
(Nguyễn Khuyến - Thu Vịnh)




Bài thơ:




TRĂNG THU
Nước dâng nghĩa khí thế nhân chào
Biếc những sông tình đẹp biết bao
Trông mảnh vườn thơ…cùng nở mộng
Như khai ngàn…nhớ nụ hoa đào
Tầng trên đẹp đẽ ngời quan cảnh
Khói dưới mịt mù tẻ ánh sao
Phủ cả trời thu nào khoáng đạt!
Song thưa để mặc bóng trăng vào...




Thí dụ 2
Cặp câu đối:

Hạ choáng tình xuân dường ý vị
Xuân dòng ngõ hạ cháy tâm can




Bài thơ:




NGÕ HẠ TÌNH XUÂN
Hạ vừa tãi nắng ứng nhành xoan
Choán nhẹ mùi hương gió cải làn
Tình đã mơ màng bung tóc chải
Xuân còn lưỡng lự vén sương đan
Dường tơ trổ phím dày cung bậc
Ý thẩm tầng không ngỡ giọt tràn
Vị ái dâng thành muôn xúc cảm
Xuân dòng ngõ hạ cháy tâm can.
(Nguyễn Quốc Bình)




Thí dụ 3
Cặp câu đối:

Lệ đổ ngắm nhìn em hạnh phúc
Châu tuôn giã biệt kẻ sang ngang




Bài thơ:




LỆ DỖI CUNG ĐÀN
Lệ cay khoé mắt dỗi cung đàn
Đổ xuống đôi dòng lặng tiếng than
Ngóng biển hoàng hôn vừa lịm tắt
Nhìn mây bóng tối đã dâng tràn
Em về chốn lạ mừng duyên thắm
Hạnh lỡ miền hoang xót phận tàn
Phúc để cho người xin gửi trọn
Châu tuôn giã biệt kẻ sang ngang.
(Sông Lam)




Đây là biến thể xuất hiện sau năm 1975. Ngày nay có thể chỉ cần 2 câu 7 chữ có ý nghĩa là được,
không cần phải đối với nhau.




LIÊN QUAN ĐẾN TỪ VÀ TỰ (CHỮ) TRONG TOÀN BÀI THƠ





Liên quan đến Từ (hình thức)

Bát Điệp - Bát Điệp Song Ngữ - Bát Điệp Song Ngữ Độc Vận


Điệp Từ - Vận Hồi Đầu


Điệp Từ Láy


Điệp Từ Kép = Song Điệp


Lưỡng Đầu Xà (viết ngược)


Nói Lái - Lưỡng Đầu Xà Nghịch Thiệt


Liên quan đến Tự - Thanh âm

Song Thanh


Tam Song Thanh - Song Thanh Điệp Vận


Liên Thanh


Ngũ Độ Thanh


Liên quan đến Tự - Chữ viết

Bát Cú Phân Minh


Điệp Tự Hồi Văn


Liên quan đến Từ (nội dung)

Tập Danh - Tính Danh




Bát Điệp




Bát Điệp = một Từ, thường là Từ đơn (viết thành 1 chữ), lặp lại trong tất cả các câu (8 câu) của
bài thơ bát cú. (Bát = 8. Điệp = sự lặp lại của ngôn ngữ).




*

Những bài thơ của Nguyễn Khuyến và Mai Xuân Thưởng có thể là những bài thơ đầu tiên dùng
biến thể nầy. Tuy nhiên 2 bài thơ nầy xuất hiện 100 năm sau bài thơ tương truyền là của chúa
Trịnh Sâm.

Những bài thơ Bát điệp đầu tiên bằng chữ Hán Nôm:
GIẢI THƯƠNG

Ai dám thương đâu kẻ có chồng
Thương vì một nỗi để phòng không
Thương con cuốc nọ kêu mùa hạ
Thương cái bèo kia dạt bể đông
Thương vợ chồng Ngưu duyên chểnh mảng
Thương cha mẹ nhện phận long đong
Làm người quân tử thương là thế

Ai dám thương đâu khách má hồng.
(Chúa Trịnh Sâm)




VÔ ĐỀ

Há dám thương ai gái có chồng
Thương về một nỗi có mà không
Thương cha mẹ nhện vương tay lưới
Thương vợ chồng ngâu cách mặt sông
Thương cái bèo non duyên mỏng mảnh
Thương con cuốc rủ phận long đong

Thương thời thương vậy thương sao đặng
Sao đặng mà thương gái có chồng.
(Nguyễn Khuyến)




CHẾT NÀO CÓ SỢ

Chết nào có sợ chết như chơi
Chết bởi vì dân chết bởi thời
Chết hiếu chi nài xương thịt nát
Chết trung bao quản cổ đầu rơi

Chết nhân tiếng để vang nghìn thủa
Chết nghĩa danh thơm vọng mấy đời

Thà chịu chết vinh hơn sống nhục
Chết nào có sợ chết như chơi.
(Mai Xuân Thưởng)




Những bài thơ Bát điệp đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ:




LO

Gánh nặng đường xa há chẳng lo
Lo sao công việc được nên trò
Lo nhà trong lúc cơn nguy biến
Lo nước đương khi cảnh rối vò
Lo chữ thần hôn đừng kể lể

Lo tình cốt nhục chớ so đo
Lo sao xứng chữ nam nhi chí
Lo thế rồi ai mới biết cho.
(Tùng Khuê LQT)

PNTV số 167




NHỚ HUẾ

Chạnh tưởng kinh đô nhớ đủ điều
Nhớ người nhớ cảnh biết bao nhiêu
Nhớ con trăng tỏ thuyền êm ái
Nhớ giọng đờn thanh gái mỹ miều
Nhớ cỏ hoa xưa tình vướng nặng
Nhớ thành quách cũ dạ buồn thiu
Non xanh nước thẳm ta đều nhớ

Còn chuyện đâu đâu cũng nhớ nhiều.
(Thứ Khanh)

PNTV số 85




Biến thể Bình đầu cũng là biến thể Bát điệp:




SỐNG SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời Sống dại mà chi sống chật đời
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai ?
Sống làm nô lệ cho người khiến Sống làm nô lệ cho người khiến
Sống chịu ngu si để chúng cười Sống chịu ngu si để bạn cười
Sống tưởng công danh không tưởng nước Sống tưởng công danh không tưởng nước
Sống lo phú quí chẳng lo đời Sống lo phú quí chẳng lo đời
Sống mà như thế đừng nên sống Sống mà như thế đừng nên sống
Sống tủi làm chi đứng chật trời. Sống dại sinh chi đứng chật đời.
(Phan Bội Châu) (Đặng Văn Bá)

*
Bát Điệp Từ phải đúng điệu:

Điệp từ phải cùng hiện diện và ở một vị trí ở 2 câu Thực hoặc 2 câu Luận, và phải ở vị trí
thứ nhất hay thứ 3 vì những vị trí khác trong những câu Thực và Luận thì phải đối âm.

Điệp từ ở 2 câu Đề và 2 câu Kết thì ở bất kỳ vị trí và có số lượng bao nhiêu cũng được.

Đây là một bài thơ của một hậu sanh không đúng với điệu của Bát Điệp (ở 2 cặp Thực và Luận):
XUÂN VĨNH TẠI
Xuân này góp nữa, bảy lăm xuân
Mải miết xuân qua những đỉnh trần
Phước phận duyên tùy xuân hảnh trí
Xuân ngùi dạ ái nộ bi phân
Dang tay tuổi dệt bừng xuân sáng
Điểm tóc xuân khai dõi tuế ngần
Trải suốt cung đường xuân vĩnh tại
Tâm bình đối diện ắt xuân ngân.
(Nguyên Lê)



15a. "Bát Điệp Song Ngữ"





Biến thể Bát Điệu dẫn đến biến thể Bát Điệu Song Ngữ với kỹ thuật làm thơ khéo hơn nữa.
Bát điệp Song ngữ = hai Từ đơn với thanh âm khác nhau (1 âm trắc và 1 âm bằng) lặp lại trong
tất cả các cêu (8 câu) của bài thơ. Hai từ đơn nầy dùng để đối nhau trong cặp Thực và cặp Luận
và thường có ý khác nhau như "nguyệt và hoa" hay "non và nước". Hai từ đơn nầy gọi là Song
ngữ (2 từ ngữ đi đôi với nhau). (Song = 2 cái, đôi).




NGUYỆT HOA

Hoa là quốc sắc nguyệt hằng nga
Nguyệt thấy hoa thơm rất mặn mà
Hoa ngó nguyệt cười hoa chúm chím
Nguyệt nhìn hoa nở nguyệt lân la
Chiều xuân bóng ngả hoa chào nguyệt
Đêm tới sương dầm nguyệt ghẹo hoa
Đất có hoa thơm trời có nguyệt
Nguyệt hoa hoa nguyệt mặc tình ta.
(Vô Danh Thị)

(*) Chú thích: Song ngữ là Nguyệt và Hoa, dùng làm tựa đề.
VỊNH NON NƯỚC

Nước nước non non cảnh với tình
Nước non non nước thiệt là xinh
Non lồng bóng nước khoe màu biếc
Nước bủa gành non tiếp lá xanh

Nước đợi chờ ai nhăn nhó mặt

Non trông tưởng bạn ngẩn ngơ hình
Nước yêu non, hỏi non yêu nước?
Nước nước non non cảnh với tình.
(Khổ Hạnh)

PNTV số 10




(*) Chú thích: Song ngữ là Non và Nước, dùng trong tựa đề.



15b. Bát Điệp Song Ngữ Độc Vận




Bát Điệp Song Ngữ Độc Vận = một biến thể giống như Bát điệp Song ngữ nhưng một từ đơn
trong 2 từ đơn thường là âm bằng được dùng làm vần bằng.




DẠI KHÔN (Nguyên bản)

Làm người có dại mới nên khôn
Chớ dại ngây si chớ quá khôn
được ích mình đừng rẻ dại
thì giữ phận chớ tranh khôn
mà hiểm độc là khôn dại
vốn hiền lành ấy dại khôn
Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại
Gặp thời, dại cũng hóa thành khôn.
(Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm)




DẠI KHÔN (Họa)

Thiên hạ đua nhau nói dại khôn
Biết ai là dại biết ai khôn
Khôn nghề cờ bạc là khôn dại
Dại chốn văn chương ấy dại khôn
Mấy kẻ nên khôn đều có dại
Làm người có dại mới nên khôn
Chữ khôn ai cũng khôn là thế
Mới biết trần gian kẻ dại khôn.

(Tú tài Trần Tế Xương - Tú Xương)

Đầu thế kỷ 20 ở Bắc Kỳ




DẠI KHÔN (Họa)

Ong óng đua nhau nói dại khôn
Biết ai là dại biết ai khôn
Khôn mê tửu sắc là khôn dại
Dại chốn thiền môn ấy dại khôn
Khôn ấy không tiền, khôn ấy dại
Dại mà phiền nhiễu, dại mà khôn
Đố ai rõ đặng trong khôn dại
Mới gọi là người biết dại khôn.

(Cai tổng Lê Quang Chiểu - Tổng Chiểu)

Đầu thế kỷ 20 ở Nam Kỳ




(*) Chú thích: Song ngữ là Dại và Khôn, dùng làm tựa đề và Khôn dùng làm Độc vận.




Bài thơ Dại Khôn của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm là bài thơ đầu tiên áp dụng Độc vận và Bát điệp.




Nếu 2 Từ đơn không đối nhau trong bài thì mặc dù có Bát điệp nhưng không khéo, như bài thơ
Bát điệp độc vận dưới đây:




XUÂN VÀ THƠ
Xuân tự ngàn xưa, bạn với thơ

Tình Xuân là cả vạn bài thơ

Đẹp duyên hoa bút, Xuân ngời sắc
Rộn khúc Xuân thiều, nhạc ảnh thơvắng oanh hờn dàu dáng liễu
Xuân về hương tỏa ngát lời thơnương, thi sĩ, đôi người ngọc
Dệt mộng ngày xuân, mộng ý thơ.
(Lạc Nam)




(*) Chú thích: Song ngữ là Xuân và Thơ với Thơ dùng làm Độc vận tuy nhiên Xuân và Thơ
không đối nhau về nghĩa và âm cũng như vị trí trong bài thơ nên "không khéo" và "không hay".

Điệp Từ


Điệp Từ = một Từ được lặp lại trong mỗi câu của bài thơ. Những Từ này đều không giống
nhau. (Điệp = có sự lặp lại về mặt ngôn ngữ).

Điệp từ xảy ra không có liên quan đến vần, ở bất kỳ vị trí nào trong câu (kể cả chữ cuối)
nhưng thường có vị trí giống nhau.


Điệp từ ở vị trí đầu và cuối mỗi câu (có liên quan đến vận), còn gọi là Vận Hồi Đầu.


- Điệp từ xảy ra không có liên quan đến vần, ở bất kỳ vị trí nào trong câu (kể cả chữ cuối)
nhưng thường có vị trí giống nhau.




CÓ LẼ NÀO

Có lẽ mình yêu, chả lẽ nào!
Như là nhớ vậy, nghĩa là sao?
Ngày xui gặp gỡ lòng xui thỏa
Buổi trót tương tư dạ trót cào

Dõi đất, mơ nồng hương đất dậy
Nom trời, ước thoảng gió trời xao
Người thôi cách biệt tình thôi lỡ
Tựa sát vai nhau, quyện sát vào.
(Nguyễn Quốc Bình)

BỎ LẠI

Bỏ lại nơi đây bỏ lại nàng

Để sầu vạn thuở để sầu mang

Người đâu ngóng đợi người đâu biết
Nhỏ chẳng thương yêu nhỏ chẳng màng
Câu phú đau buồn câu phú hẩm

Kúc tình đổ vỡ khúc tình tang
Thôi đành vĩnh biệt thôi đành thế
Phải lỡ duyên kia phải lỡ làng.
(Sông Lam)



- Điệp từ ở vị trí đầu và cuối mỗi câu (có liên quan đến vận), còn gọi là "Vận hồi đầu":




VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ
Trường xưa trở lại, vắng sân trường
Hương cũ bông cài lạc dấu hương
Nắng mảng còn vương chiều dại nắng
Tường rêu đã phủ nét hoang tường
Nhớ tà áo mỏng chênh choang nhớ
Thương tóc vai gầy rộn rã thương
Trống lặng ru mình nghiêng giá trống
Đường ai vẩy mực... tím hoen đường.
(Nguyễn Quốc Bình)




Biến thể Điệp Từ xuất hiện từ thời nhà Lý, cùng một lúc với biến thể Lưỡng Đầu Xà, qua bài
thơ dưới đây của Thiền sư Không Lộ (có cả 2 biến thể):




VÔ ĐỀ

Thiên liên bích thụ, thụ liên thiên.
Yên tỏa thanh sơn, sơn tỏa yên
Thụ nhiễu tùng la, la nhiễu thụ
Xuyên thông vu giáp, giáp thông xuyên
Tửu mê túy khách, khách mê tửu
Thuyền tống hành nhân, nhân tống thuyền
Hội đắc tri âm, âm đắc hội
Truyền kim đáo cổ, cổ kim truyền.
(Thiền sư Không Lộ)




(*) Chú thích: Lưỡng Đầu Xà trong mỗi câu là:
Thiên liên và liên thiên

Yên tỏa và tỏa yên

Thụ nhiễm và nhiễm thụ
Xuyên thông và thông xuyên
Tửu mê và mê tửu

Thuyền tống và tống thuyền

Hội đắc và đắc hội
Truyền kim và kim truyền

Điệp Từ Láy


Điệp Từ Láy = một Cụm Từ được lặp lại trong mỗi câu của bài thơ. Những cụm từ này đều
không giống nhau. (Láy = nói đi nói lại mãi).

Cụm từ gồm có 2 từ thì gọi là Nhị điệp

Cụm từ gồm có 3 từ thì gọi là Tam điệp


- Cụm từ được lặp lại gồm có 2 từ (= Từ kép) và không có liên quan đến vần và chữ cuối của câu
(Nhị điệp). Thí dụ: Chập chùng núi vẽ chập chùng sương.




QUA MIỀN TÂY BẮC

Chập chùng núi vẽ chập chùng sương
Lắt lẻo xuyên mây lắt lẻo đường
Vi vút khuông chiều vi vút thoảng
Dặt dìu quãng sáo dặt dìu vương
Vòng vo cảnh dẫn vòng vo tựa
Nắn nỏm tình khơi nắt nỏm dường
Văng vẳng ai cười văng vẳng tiếng
Ngạt ngào thả gió ngạt ngào hương!
(Nguyễn Quốc Bình)




Cụm từ được lặp lại gồm có 2 từ (= Từ kép) và có liên quan đến chữ cuối của câu kể cả vần
(Nhị điệp). Thí dụ: Nhé khổ đau này... giã khổ đau.



LỐI VỀ CÓ NHAU

Nhé khổ đau này... giã khổ đau
Giòn tươi màu nắng lại tươi màu
Dâng nồng ý nguyện thơm nồng ý
Quệt thắm cau trầu đỏ thắm cau
Tấm lụa nõn phơi hoàn lụa nõn
Nguồn tơ nhàu chải hết tơ nhàu
Thôi đừng giận hỡi xin đừng giận
Hẹn có nhau về thuở có nhau.
(Nguyễn Quốc Bình)



Cụm từ được lặp lại gồm 3 từ và thường có liên quan đến từ cuối của câu kể cả vần (Tam
điệp). Thí chụ: Một chút hờn ghen, một chút hờn.


CHO ĐỜI SẮC HƯƠNG

Một chút hờn ghen một chút hờn
Ngõ sầu đơn lạnh ngõ sầu đơn
Hồn thơ thẩn ngóng hồn thơ thẩn
Giấc chập chờn in giấc chập chờn
Ngăn bởi oán cừu ngăn bởi oán
Trải bằng ơn nghĩa trải bằng ơn
Tường câu đạo lý tường câu đạo
Chẳng úa sờn duyên chẳng úa sờn.
(Nguyễn Quốc Bình)


Song điệp - Điệp Từ Kép




Điệp Từ Kép = Song Điệp:
Điệp Từ Kép = hai Từ khác nhau đều được lặp lại trong mỗi câu của bài thơ. Những Từ
nầy đều không giống nhau. Từ lặp lại thường đứng kế nhau. (Kép = có cấu tạo gồm 2 thành
phần cùng đôi).
Song Điệp = hai cặp điệp tự trong mỗi câu của bài thơ, hoặc ở đầu câu hoặc ở giữa câu.
(Nam Phong tạp chí). (Song = 2 cái, đôi).

Diên Hương gọi là Điệp Ngữ Thể.
Thí dụ: Vất vất vơ vơ cũng nực cười.


Theo Nam Phong tạp chí, thể Song Điệp là mỗi câu, hoặc ở đầu câu hoặc ở giữa câu, đều có
dùng 2 cặp Điệp tự.

Nam Phong tạp chí cũng đăng bài thơ đầu tiên theo biến thể Song điệp (1918).


VÔ ĐỀ

Vất vất vơ vơ cũng nực cười
Căm căm cuối cuối có hơn ai
Nay còn chị chị anh anh đó
Mai đã ông ông mụ mụ rồi

Có có không không lo hết kiếp
Khôn khôn dại dại chết xong đời
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy

Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi.
(Vô Danh Thị)

Nam Phong Tạp Chí 1918


Đây là một bài thơ Song điệp của thế kỷ 21:
BÓNG CHIỀU

Dập dập dìu dìu những gót phiêu
Mây mây gió gió ngả hương chiều
Nồng nồng dịu dịu trăng vừa nhú
Ngát ngát bừng bừng lửa đã thiêu
Mắt mắt môi môi nhoài xiết..., đủ
Ân ân ái ái ngoảnh xem..., nhiều

Khoan khoan nhặt nhặt so đều cữ
Bổng bổng trầm trầm, ấy cuộc yêu!
(Nguyễn Quốc Bình)



18a. Đây là một bài thơ vừa có Điệp Từ vừa có Điệp Từ Kép của một cụ Hoàng ở Tam Đăng
(thuộc tỉnh Nam Định):


VÔ ĐỀ

Nhật nhật cam lâm, nhật nhật tân
Tân niên, tân thủ, thủ xuân xuân
Đình hoa, hoa diễm, hoa hoa cẩm
Viên thảo, thảo phô, thảo thảo nhân
Yến yến đối minh, minh đối đối

Oanh oanh tần chuyển, chuyển tần tần (*)
Vấn tâm, tâm hỉ, hỉ hà sự

Tiểu tặc, tặc bình, bình vạn dân.
(Cụ Hoàng ở Tam Đăng)


(*) Chú thích: Tần = nhiều lần.

Lưỡng đầu xà


Lưỡng Đầu Xà là 1 lối "Viết Ngược".
Lưỡng Đầu Xà = (có) 2 cụm từ (mỗi cụm từ gồm 2 từ) ở vị trí đầu và cuối của mỗi câu, cụm từ
sau là hoán đổi vị trí của cụm từ trước như "con rắn 2 đầu" (lưỡng đầu xà). Thí dụ: Vây ngõ và
ngõ vây. (Lưỡng = hai. Lưỡng đầu = 2 đầu. Xà = con rắn).


HƯƠNG MÙA VÂY

Vây ngõ sông hồ lượn ngõ vây
Đầy hương ủ nhụy ngát hương đầy
Núi vờn quãng bổng tiêu vờn núi
Mây dạo cung trầm én dạo mây
Nhỏ bước ghìm âm dằn bước nhỏ
Gầy trăng dợn ảnh vỡ trăng gầy
Khẽ lùa cánh mỏng, tơ lùa khẽ
Cây ngả vai chiều... bóng ngả cây.
(Nguyễn Quốc Bình)

Trong thơ chữ Quốc ngữ Nam Kỳ có truyền tụng bài thơ của ông Diên Hương:
NHẮN CÁC BẠN THƠ

Thương chồng giữ đạo, đáng chồng thương
Thường thấy từ xưa chuyện thấy thường
Chẳng biết sao cười, ai biết chẳng?
Dường bao đáng ghét, trẻ bao dường!
Nắng chan rõ mặt tình chan nắng
Gương rạng soi lòng tiết rạng gương
Nghĩa nặng trăm năm còn nặng nghĩa
Hương diên ngàn dặm thắm Diên Hương.
(Diên Hương) 1950

Trong sách Thiên Tiên Phật Thánh Lục có chép bài thơ sau đây của Thiền sư Không Lộ khi ông
gặp Thiền sư Giác Hải. Bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú theo thể Lưỡng Đầu Xà đầu tiên
của nước Việt chúng ta. Thiền sư Không Lộ sống vào thời Lý Nhân Tông.


VÔ ĐỀ
Thiên liên bích thụ, thụ liên thiên.
Yên tỏa thanh sơn, sơn tỏa yên
Thụ nhiễu tùng la, la nhiễu thụ
Xuyên thông vu giáp, giáp thông xuyên
Tửu mê túy khách, khách mê tửu
Thuyền tống hành nhân, nhân tống thuyền
Hội đắc tri âm, âm đắc hội
Truyền kim đáo cổ, cổ kim truyền.
(Thiền sư Không Lộ)


Bài thơ của Thiền sư Không Lộ không những có biến thể Lưỡng Đầu Xà mà còn có biến thể
Điệp Từ.


VÔ ĐỀ

Thiên liên bích thụ, thụ liên thiên.
Yên tỏa thanh sơn, sơn tỏa yên
Thụ nhiễu tùng la, la nhiễu thụ
Xuyên thông vu giáp, giáp thông xuyên
Tửu mê túy khách, khách mê tửu
Thuyền tống hành nhân, nhân tống thuyền
Hội đắc tri âm, âm đắc hội
Truyền kim đáo cổ, cổ kim truyền.
(Thiền sư Không Lộ)


Nói Lái


Nói Lái: Có 2 cách Nói Lái trong mỗi câu của bài thơ.

Có 2 cụm từ đứng ở bất kỳ vị trí nào trong mỗi câu, cụm từ sau là cách nói lái của cụm từ
trước. Mỗi cụm từ có 2 từ.

Có 2 cụm từ đứng ở đầu và cuối mỗi câu; cụm từ sau là cách nói lái của cụm từ trước.

Mỗi cụm từ có 2 từ. (= Lưỡng Đầu Xà Nghịch Thiệt). (Thiệt = cái lưỡi).


- Cách 1:

Có 2 cụm từ đứng ở bất kỳ vị trí nào trong mỗi câu, cụm từ sau là cách nói lái của cụm từ
trước. Mỗi cụm từ có 2 từ.

Thí dụ về Nói Lái như: Lá trải và trái lả.



HƯƠNG MÙA

Lá trải hương chiều ... trái lả say
Tở manh nắng sẫm mảnh tơ dày
Đông về ả lúa vê đồng quyện
Cánh xẻ anh chuồn xé cảnh lay
Nhằm đá vàng so đà nhắm buổi
Ngỡ cung bậc ruổi cũng ngơ chày
Bên thềm xắn xỏa thêm bền ý
Tịnh lứa cau trầu lựa tính ngay!
(Nguyễn Quốc Bình)




- Cách 2 = Lưỡng đầu xà nghịch thiệt:

Có 2 cụm từ đứng ở đầu và cuối mỗi câu; cụm từ sau là cách nói lái của cụm từ trước.

Mỗi cụm từ có 2 từ. (Thiệt = cái lưỡi).

Thí dụ về Nói Lái như: Đông tràn và đàn trông.


HƯƠNG ĐÔNG

Đông tràn, lũ họa khép đàn trông
Vồng ngút triền đê cải vút ngồng
Đậm gió trai hiền quăng đó giậm
Nông cày nữ đảm nhắc này công
Vữa sương, lúa hẹn kỳ vương sữa
Chồng đất màu vun buổi chất đồng
Tắm thỏa hương đời khi tỏa thắm
Bông sờ nặng trĩu khoảnh bờ sông.
(Nguyễn Quốc Bình)

Song thanh


Song Thanh = Trong mỗi câu có 2 cụm từ, trong mỗi cụm từ có 2 từ liền nhau và vần nhau. Thí
dụ: 2 cụm từ khéo léo và vẽ rẽ trong một câu thơ; khéo vần với léo và vẽ vần với rẽ. (Song = 2
cái, đôi).


TẶNG BẠN (Xướng)

Khéo léo lời hoa vẽ rẽ ròi
Thâm trầm thi điệu đáng vàng thoi
Theo bèo lướt sóng qua nhà bạn
Ló gió trương buồm tính vịnh doi
Tranh cảnh Tịnh Tâm mau dạo thưởng
Tình hình Cái Chác rảnh rành coi
Đoái hoài tới nghĩa can tràng cũ
Nên đến thăm nhau hẳn mặn mòi.
(Diên Hương)

Tam Song Thanh - Song Thanh Điệp Vận


Tam Song Thanh = Song Thanh Điệp Vận:
Tam Song Thanh = Trong mỗi câu có 3 cụm từ; trong mỗi cụm từ có 2 từ liền nhau và
vần nhau.
Song Thanh Điệp Vận (= Tam Song Thanh) = Trong mỗi câu bảy chữ đều phải có sáu
chữ trùng vận với nhau theo từng cặp.

Thí dụ: 3 cụm từ (sáu chữ) bắt gắt, bơi chơi, cách rạch trong một câu thơ; bắt vần với gắt, bơi
vần với chơi và cách vần với rạch.


TẶNG BẠN (Họa)

Bắt gắt bơi chơi cách rạch ròi
Sóng lòng chộn rộn tựa đưa thoi
Tươi cười cứ thử chèo theo vịnh
Bình tĩnh trông mong đợi tới doi
Mỹ ý già ra càng đáng đọc
Thâm trầm trẻ sẽ tính nhìn coi
Khuấy rầy cụ phủ đà la ó
Bực tức thay ai khó tỏ mòi.
(Thượng Thanh)


(*) Chú thích: Bài thơ Tam Song Thanh của ông Thượng Thanh là bài họa của bài thơ Song
Thanh của ông Diên Hương. Cả 2 bài thơ có hạn vận Từ Thứ.


CẢM HỨNG

Nguyệt khuyết lờ mờ nửa cửa soi
Lơ thơ cỏ tỏ nét tươi cười
Âm thầm giận phận lôi thôi mãi
Bức rức phiền duyên lẩn thẩn hoài
Lác đác sương vương cành liễu yếu
Lai rai gió bỗ đóa hoa mai
Bâng khuâng tưởng tượng về quê cũ
Văng vẳng lầu đâu trống gióng bồi.
(Lệ Thanh - Hàn Mặc Tử)

PNTV số (?)


CHƠI THUYỀN ĐÊM TRĂNG

Lãi rãi bơi chơi giữa bữa rằm
Giòng trong lả bá thả lâm xâm
Sao cao tỏ rõ mây xây đụn
Núi túi lơ mơ thỏ ló cằm

Lượt mượt trâm dầm sương lảy nhảy
Đề huề quyến luyện tiếng âm thầm
Thư từ tả họa đò dò bến

Sưởng hưởng an nhàn đã thỏa tâm.
(Bửu Bát)

PNTV số 116


LỤT THÁNG BẢY

Hoa đã xây đây cỏ nhỏ sương
Ngành xanh có gió múa thương dương
Mưa sưa lác đác mây đầy núi
Nước bước lao xao lụt lút đường
Nhủi lủi chơm nơm bầy gáy nhảy
Ao trào hói ói lũ lươn trườn
Bè tre rắn xoắn đông rồng dậy
Thước nước đêm thêm lắp xắp giường.
(Mộng Phát Tôn Thất Diệm)

Liên thanh


Liên Thanh = các từ cùng âm bằng hoặc cùng âm trắc liền nhau trong mỗi câu thơ mang cùng
thanh dấu. (Liên = liền với nhau).

Thí dụ: 2 Từ "tháng" và "chín" liền nhau cùng có âm trắc và cùng thanh dấu là dấu sắc vì âm trắc
có thể có 1 trong 4 thanh dấu là sắc, hỏi, ngã và nặng.


VINH QUANG VIỆT NAM

Tháng chín thu sang phất phới cờ
Đèn vàng thảm đỏ tưởng như mơ
Non sông vạn chặng kia mây gió
Gấm vóc hai phương ấy bến bờ
Hỡi những đoàn người vùi tuổi trẻ
Này từng khúc hát nhắn con thơ
Hoa đơm thẫm ngõ chưa khô lệ
Đất nước vinh quang đếm ý chờ.
(Minh Thái)

Đây là biến thể xuất hiện sau 1975.

Ngũ Độ Thanh


Ngũ Độ Thanh = Trong mỗi câu phải có đủ năm thanh dấu; các thanh trắc phải khác nhau và các
thanh bằng giống nhau phải đặt ở vị trí không gần nhau. Các vận cuối cùng thì thanh cũng khác
nhau. (Ngũ = 5. Độ = pháp luật).



KHÓ

Tán tỉnh Thùy Linh ngẫm phạc phờ
Nhưng nàng mãi vậy cứ làm ngơ
Nhiều đêm ngóng đợi tâm mòn mỏi
Lắm buổi chờ mong dạ thẫn thờ
Thổn thức tàn canh mà vẫn mộng
Âu sầu hết bữa lại còn mơ
Gầy hao thể xác vì si hận
Cũng chẳng tròn duyên rạng bến bờ.
(Sông Lam)


Đây cũng là biến thể mới, thấy sau 1975. Liên Thanh và Ngũ Độ Thanh quá phức tạp và không
có gì đặc sắc nên không được phổ thông.


Bát Cú Phân Minh


Bát Cú Phân Minh = Mỗi câu đều có phụ âm đầu (của những chữ) giống nhau.
Bát Cú Phân Minh - Độc Nữu = Phụ âm đầu của mỗi câu đều giống nhau.

Bát Cú Phân Minh - Bát Nữu = Phụ âm đầu trong một câu thì giống nhau nhưng khác với
phụ âm đầu của những câu khác, có 8 câu thì có 8 phụ âm đầu cho mỗi câu.

(Bát cú = 8 câu. Độc = một mình. Nữu = chỗ thắt nút).


- Phụ âm đầu của mỗi câu đều giống nhau; gọi là: "Bát cú phân minh - Độc nữu"


BỆNH TƯƠNG TƯ

Tại tình tồi tệ tựa tàn tơ
Tán tỉnh tương tư tám tỷ tờ
Thổn thức thêu thùa than thấy thánh
Thầm thì thệ thốt thở thành thơ
Trong trời trắc trở trăm trần trụi
Trên trán tàn trề triệu trống trơ
Tức tưởi tim tôi tiều tụy tái
Thì thôi thủng thẳng thử theo thờ.
(Sông Lam)


- Phụ âm đầu giữa mỗi câu của các câu của bài thơ khác nhau, có 8 câu thì có 8 phụ âm đầu cho
mỗi câu. Gọi là "Bát cú phân minh - Bát nữu".


TỰ TRÀO

Lẹ làng, lịch lãm, lại lu lờ
Thỏa thích thì thôi thả thất thơ
Mèo mở mỏi mê mà mãi miết
Chén chè châm chước chẳng chần chờ
Tánh tình tồi tệ toan tu tỉnh
Sự sản sơ sài sẽ sởn sơ
Hiền hữu hay ho ham hội họp
Vui vầy vồn vã vịnh vu vơ.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ) 1947

TÌNH VẤN VƯƠNG

Dan díu dằng dai dáng dật dờ
Vấn vương vô vị việc vu vơ
Tưởng tin tươm tất tình tươi tốt
Mong mỏi mặn mà má mởn mơ
Đắm đuối đầu đường đi đớ đẩn
Ngập ngừng ngang ngửa ngó ngu ngơ
Lâm ly lưu luyến lòng lai láng

Thấp thỏm thương thầm thả thẩn thơ.
(Nguyễn Đình Lý)


Điệp Tự Hồi Văn


Điệp Tự Hồi Văn = Một bài Thất Ngôn Tuyệt Cú , chỉ có mười chữ điệp qua điệp lại mà thành
bài, mà đọc thuận hay đọc nghịch gì cũng được. (Hồi = xoay lại, trở về).


ÔNG KHUYÊN BÀ ĐỪNG SỢ MẬP

Đừng ăn sợ mập liệu coi chừng
Mập liệu coi chừng bụng lửng lưng
Lưng lửng bụng chừng coi liệu mập
Chừng coi liệu mập sợ ăn đừng.
(Diên Hương)


Đây là một biến thể khó làm, chỉ trong một bài Tứ tuyệt độc nhất như trên. Thơ Bát Cú cũng có
nhưng là một Dạng của Thuận Nghịch Độc.

Tập Danh

Tập Danh là một biến thể rất rộng rãi và cần định nghĩa rõ ràng cũng như hiểu rõ lịch sử của nó.
Tập Danh = tập hợp danh từ của sinh vật, cảnh vật hay sự vật trong mỗi câu thơ của bài thơ mà
không có liên quan gì đến nội dung diễn tả theo đề tài của bài thơ. (Tập = tập hợp).

Nếu tập hợp danh từ có liên quan đến nội dung diễn tả theo đề tài của bài thơ thì cũng là một bài
thơ thông thường chứ không phải là bài thơ theo biến thể Tập danh.

*

Ông Lê Quý Đôn có một bài thơ dùng biến thể Tập danh đầu tiên trong Văn học sử nước Việt.
Khi ông còn nhỏ "rắn đầu biếng học" nên có làm bài thơ tả sự việc nầy. (Rắn = cứng).


RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC

Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà
Rắn đầu biếng học lẽ không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo
Lằn lưng cam chịu vệt năm ba
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học (*)
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.
(Lê Quý Đôn)


(*) Chú thích: Trâu Tử người nước Lỗ.


Đọc thoáng qua bài thơ thì chỉ thấy tả một cậu bé “đầu rắn mắc làm biếng học bị la rầy đánh đòn
nên mới siêng học” nhưng đọc kỹ thì thấy có tên mỗi con “rắn” trong mỗi câu thơ: rắn liu điu,
rắn đầu, rắn hổ lửa, rắn mai gầm, rắn ráo, rắn lằn, rắn trâu và rắn hổ mang.

RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC

Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà
Rắn đầu biếng học lẽ không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo
Lằn lưng cam chịu vệt năm ba
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học (*)
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.
(Lê Quý Đôn)


Bài thơ nầy là điển hình cho biến thể Tập Danh: trong bài thơ có tập hợp danh từ của sinh

Đó là kỹ thuật khéo "chơi chữ" của tác giả. Đây cũng là định nghĩa của biến thể Tập danh.

*

Ông Nguyễn Công Trứ cũng có một bài thơ giống vậy. Tương truyền ông đánh Tổ tôm bị thua
và thiếu nợ nên làm bài thơ xin "Khất nợ thua Tổ tôm".


KHẤT NỢ THUA TỔ TÔM

Thân bác văn tôi đã xác vờ (*)
Trong nhà còn biết bán chi giờ?
Của trời cũng muốn không thang bắc
Lộc thánh còn mong lục sách chờ
Thiên tử nhất văn rồi chẳng thiếu (*)
Nhân sinh tam vạn hãy còn thừa
Đã không nhất sách kêu chi nữa (*)
Ông lão tha cho cũng được nhờ.
(Nguyễn Công Trứ)


(*) Chú thích:

Bác văn: ý nói “học trò”. “Thân bác văn” là “thân học trò”.

Từ câu: “Nhất văn Thiên Tử chiếu. Tứ hải Trạng Nguyên tâm”. (Một văn chiếu vua ban
ra. Bốn biển đều có ý đậu Trạng Nguyên)

Nhất sách = kế sách.

Thật ra trong bài thơ trên, mỗi câu có tên 1 con bài tổ tôm: bác văn, bán chi, không thang, lục
sách, nhất văn, tam vạn, nhất sách và ông lão.


KHẤT NỢ THUA TỔ TÔM

Thân bác văn tôi đã xác vờ
Trong nhà còn biết bán chi giờ?

Của trời cũng muốn không thang bắc
Lộc thánh còn mong lục sách chờ
Thiên tử nhất văn rồi chẳng thiếu
Nhân sinh tam vạn hãy còn thừa

Đã không nhất sách kêu chi nữa
Ông lão tha cho cũng được nhờ.
(Nguyễn Công Trứ)


Tên (danh) của những con bài tổ tôm này không có liên quan gì đến nội dung diễn tả tựa đề của
bài thơ. Đó chỉ là kỹ thuật chơi chữ khéo léo của ông Nguyễn Công Trứ mà thôi.


Dưới đây những bài thơ khác theo biến thể Tập Danh với cùng một mục đích chơi chữ khéo léo
như ông Lê Quý Đôn và Nguyễn Công Trứ.


Trước hết là 2 bài thơ Xướng Họa của ông Nguyễn Quý Tân và ông Nguyễn Công Trứ với Tập
danh động vật.

Ông Nguyễn Quý Tân thi đậu Tiến sĩ nhưng không muốn theo "nghề làm quan" nên có làm bài
thơ than và ông Nguyễn Công Trứ làm thơ họa lại để rầy ông này. Đây là 2 bài thơ thông thường
như những bài thơ Đường Luật Bát Cú khác.


VÔ ĐỀ VÔ ĐỀ

Có nghề mà lại cậy chi nghề Tám vạn nghìn tư thứ ngỗng nghề
Nghề thế ai ngờ lại hóa nghê Thứ nghề áo mũ thứ nghề nghê
Vạn sự bất như thân cũng hổ Mày râu ngẫm lại lòng thêm hổ
Nhất văn vô hữu nợ còn bê Thư kiếm sao đành dạ bỏ bê
Công danh chỉ tổ khoe đồ mã Xanh đỏ rẻ cùi khoe tốt mã (*)
Cờ biển còn hơn của ướt sề Phong lưu khỉ gió hót đầy sề
Bôn tẫu làm chi cho rách gấu Xin đừng giở thói văn chương nữa
Thà rằng ngồi đó vuốt râu dê. Bán chó sao ngoài lại thủ dê.
(Nguyễn Quý Tân) (Nguyễn Công Trứ)


(*) Chú thích: theo Tục ngữ “Tốt mã dẻ cùi”.

Tuy nhiên đọc kỹ thì cả 2 bài thơ xướng họa đều có biến thể tập danh của những động vật:



VÔ ĐỀ VÔ ĐỀ

Có nghề mà lại cậy chi nghề 
Tám vạn nghìn tư thứ ngỗng nghề
Nghề thế ai ngờ lại hóa nghê 
Thứ nghề áo mũ thứ nghề nghê
Vạn sự bất như thân cũng hổ 
Mày râu ngẫm lại lòng thêm hổ
Nhất văn vô hữu nợ còn bê
 Thư kiếm sao đành dạ bỏ bê
Công danh chỉ tổ khoe đồ mã 
Xanh đỏ rẻ cùi khoe tốt mã (*)
Cờ biển còn hơn của ướt sề
 Phong lưu khỉ gió hót đầy sề

Bôn tẫu làm chi cho rách gấu Xin đừng giở thói văn chương nữa
Thà rằng ngồi đó vuốt râu dê. Bán chó sao ngoài lại thủ dê.
(Nguyễn Quý Tân) (Nguyễn Công Trứ)


(*) Chú thích: theo Tục ngữ “Tốt mã dẻ cùi”.


Bài xướng "tập danh" 7 con động vật (nghê, hổ, bê, mã, lợn, gấu và dê) và bài họa "tập danh"
thêm 2 con động vật nữa (ngỗng và chó).


*

Theo vua cha Thiệu Trị thì Hoàng tử Hồng Bảo là người "ngu độn ít học" nên không truyền
ngôi. Tuy nhiên một sự kiện đã chứng minh ngược lại.

Sách "Thi ca trào phúng đất Thần Kinh" có ghi lại câu chuyện giữa vua Tự Đức (Hồng Nhậm) và
An Phong Công (Hồng Bảo).

Vua Tự Đức có ra đề thi là "Vô Đề" với những sự bắt buộc như sau:

Tám chữ đầu của tám câu phải là: "Phong, hoa, tuyết, nguyệt, cầm, kỳ, thi, họa".

Trong mỗi câu thơ lại phải có một chữ số theo thứ tự: "Nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất,

bát".

Với sự hạn chế nầy, triều thần thần và hoàng gia đều không ai làm được bài thơ chỉ trừ có Hồng
Bảo.


VÔ ĐỀ
Phong đạm vân khinh nhất diệp châu
Hoa cù ẩn ước nhị tầng lâu
Tuyết ngưng địa thượng tam đông lãnh
Nguyệt đáo thiên trung tứ bích sầu
Cầm vận ngũ huyền ca nhã hứng
Kỳ vi lục cuộc thức doanh thâu
Thi thành thất bộ chung hoài cổ (*)
Họa nhập Tiêu Tương bát cảnh đồ. (*)
(An Phong Công Hồng Bảo)

Người dịch bài thơ cũng đặc sắc:
VÔ ĐỀ
Gió nhẹ mây êm một lá thuyền
Lầu hai lấp ló khóm hoa hiên
Ba đông tuyết phủ dồn hơi lạnh
Bốn vách trăng soi gợi nỗi phiền
Đàn gảy năm dây ca hát thú
Cờ vây sáu cuộc đổi thay phiên
Thơ xong bảy bước xui hoài cổ (*)
Bút họa Tiêu Tương tám cảnh tiên. (*)
(Quỳ Ưu Nguyễn Đôn Dư dịch)




(*) Chú thích

Câu 7 nhắc lại Tào Thực 7 bước thành bài thơ.
Câu 8 nói tới 8 bức họa tuyệt đẹp của Tống Địch.

Tám bức họa của Tống Địch vẽ là:

Bình sa lạc nhạn (bãi cát nhạn sa)

Viễn phố phàm quy (bến xa buồn về)

Sơn thị tình lam (trời quang mây tạnh nơi núi và chợ)

Giang thiên mộ vân (trời mước mây chiều)

Động Đình thu nguyệt (trăng thu ở hồ Động Đình)

Tiêu Tương dạ vũ (mưa đêm ở sông Tiêu Tương)

Yên tự vãn chung (khói chùa và tiếng chuông chiều)

Ngư thôn tịch chiếu (xóm chày bóng ngã)




Vua Tự Đức ra đề tài nhưng chính nhà vua cũng không làm được, cũng như các thi sĩ trong Bạch
Vân thi xã và thi hào Cao Bá Quát! Người làm bài thơ nầy chứng tỏ chữ nghĩa và kiến thức sâu
rộng.

Thật ra hai bài thơ của Hồng Bảo và thơ dịch của Quỳ Ưu Nguyễn Đôn Dư đều là 2 bài thơ theo
biến thể Tập danh.

Bài thơ Hán ngữ của Hồng Bảo có 2 Tập danh:

Tập danh cảnh vật và sự vật: phong hoa tuyết nguyệt cầm kỳ thi họa.
Tập danh con số: nhất nhị tam tứ ngũ lục thất bát.

Bài thơ Việt ngữ của Quỳ Ưu Nguyễn Đôn Dư có 2 Tập danh (dịch từ Hán ngữ ra):
Tập danh cảnh vật và sự vật: gió, hoa, tuyết, trăng, đàn, cờ, thơ, họa.

Tập danh con số: một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám.


Nếu bỏ những tập danh thì bài thơ (Hán ngữ và Việt ngữ) tả cảnh tình hưởng nhàn rất hay,
mượn cảnh vật thiên nhiên mà tận hưởng cầm kỳ thi họa:


VÔ ĐỀ VÔ ĐỀ

Phong đạm vân khinh nhất diệp châu Gió nhẹ mây êm một lá thuyền
Hoa cù ẩn ước nhị tầng lâu Lầu hai lấp ló khóm hoa hiên
Tuyết ngưng địa thượng tam đông lãnh Ba đông tuyết phủ dồn hơi lạnh
Nguyệt đáo thiên trung tứ bích sầu Bốn vách trăng soi gợi nỗi phiền
Cầm vận ngũ huyền ca nhã hứng Đàn gảy năm dây ca hát thú
Kỳ vi lục cuộc thức doanh thâu Cờ vây sáu cuộc đổi thay phiên
Thi thành thất bộ chung hoài cổ Thơ xong bảy bước xui hoài cổ (*)
Họa nhập Tiêu Tương bát cảnh đồ. Bút họa Tiêu Tương tám cảnh tiên. (*)
(An Phong Công Hồng Bảo) (Quỳ Ưu Nguyễn Đôn Dư dịch)

*
Thơ chữ Quốc ngữ từ đầu thế kỷ 20 bắt đầu dùng biến thể Tập danh nhiều hơn là thơ chữ Hán
Nôm của thế kỷ 18 và 19.


Tập Danh Động vật (như những bài thơ của Lê Quý Đôn, Nguyễn Quý Tân và Nguyễn Công
Trứ).


Bài thơ thứ 1:

Bài thơ thông thường với nội dung tả "Gái chửa hoang" (bên trái) nhưng nếu đọc kỹ có
tập danh của những động vật trong bài thơ (bên phải):




GÁI CHỬA HOANG    GÁI CHỬA HOANG
Sẻ chơi anh én mấy lần ôi! Sẻ chơi anh én mấy lần ôi!
Khách bẻ huê (hoa) sen tượng ngán thôi Khách bẻ huê (hoa) sen tượng ngán thôi
Óc ách dạ le thêm hổ mặt Óc ách dạ le thêm hổ mặt
Vỏ vàng mình ngọc mễn mang rồi Vỏ vàng mình ngọc mễn mang rồi
Còn chi cheo chéc hơi chồn cáo Còn chi cheo chéc hơi chồn cáoXện chuyện hồng nhan quá lọ nồi Xện chuyện hồng nhan quá lọ nồi
Cúm núm ba ô heo khoán ước Cúm núm ba ô heo khoán đước
Phụng cò các nếp khó lừa xôi. Phụng cò các nếp khó lừa xôi.
(Học sanh Thái) (Học sanh Thái)




Bài thơ thứ 2:

Bài thơ thông thường với nội dung tả "Gái kén chồng" (bên trái) nhưng nếu đọc kỹ có tập
danh của những động vật trong bài thơ (bên phải) theo thể thức "Áp: thượng cầm trung thú hạ
ngư" tức là trong mỗi câu lần lượt xuất hiện tên của 1 con chim bay trên trời, 1 con thú ở dưới
đất và 1 con cá dưới nước.




GÁI KÉN CHỒNG GÁI KÉN CHỒNG

Én anh mai mối thấy lăng xăng Én anh mai mối thấy lăng xăng
Cưu chút niềm tây tượng nghĩ rằng Cưu chút niềm tây tượng nghĩ rằng
Lang chạ mang điều rô miệng thế Lang chạ mang điều rô miệng thế
Cộc cằn hổ chịu ép duyên trăng Cộc cằn hổ chịu ép duyên trăng
Ưng lo lừa kết trang tòng bá Ưng lo lừa kết trang tòng bá
Sẽ tính bò leo phận các đằng Sẽ tính bò leo phận các đằng
Cúm núm mấy lần mang đặng đuối Cúm núm mấy lần mang đặng đuốiKhách cùng lân lý có hay chăng? Khách cùng lân lý có hay chăng?
(Vô Danh thị) (Vô Danh thị)




(*) Chú thích:

8 con chim: én, cưu, lang, cộc, ưng, sẻ, cúm và khách.
8 con thú: mối, tây, mang, hổ, lừa, bò, mang và lân.

8 con cá: lăng, tượng, rô, ép, kết, leo, đuối và lý.


Tập Danh Thực vật.




Bài thơ thứ 3:

Bài thơ thông thường với nội dung tả "Khuê oán" (bên trái) nhưng đọc kỹ có tập danh của
những trái cây trong bài thơ (bên phải): đào, hồng, cam, mít, khổ qua, sầu riêng và bầu.




KHUÊ OÁN KHUÊ OÁN

Cái số đào hoa khéo lỡ làng Cái số đào hoa khéo lỡ làng
Âu đành bỏ quá kiếp hồng nhan Âu đành bỏ quá kiếp hồng nhan
Ôi duyên hẳn phận cam lòng thiếp Ôi duyên hẳn phận cam lòng thiếp
Chua dấm cay tiêu mít bụng chàng Chua dấm cay tiêu mít bụng chàng
Lúc khổ qua rồi quên tấm mẳn Lúc khổ qua rồi quên tấm mẳn
Khối sầu riêng chịu nát buồng gan Khối sầu riêng chịu nát buồng gan
Đêm trường nửa gối tương tư lạnh Đêm trường nửa gối tương tư lạnh
Tâm sự một bầu luống ngổn ngang. Tâm sự một bầu luống ngổn ngang.
(Xuân Lan) (Xuân Lan) 1932




Bài thơ thứ 4:

Bài thơ thông thường với nội dumg "Thu Tửu" (bên trái) nhưng đọc kỹ có tập danh
những trái cây trong bài thơ (bên phải):


THU TỬU THU TỬU

Bàng hoàng nghe tiếng gọi đâu đây Bàng hoàng nghe tiếng gọi đâu đây
Chợt tỉnh cam lòng chịu tiếng say Chợt tỉnh cam lòng chịu tiếng say
Bạn nặng giang hồ mơ ánh nguyệt Bạn nặng giang hồ mơ ánh nguyệt
Ta buồn hồng phấn lộng hơi may Ta buồn hồng phấn lộng hơi may
Đèo bòng đã ngại duyên ngày trước Đèo bòng đã ngại duyên ngày trước
Vất vả còn e phận buổi nay Vất vả còn e phận buổi nay
Thanh nhãn chắc chi đời gió bụi Thanh nhãn chắc chi đời gió bụi
Cờ lâm nước bí hẹn bao ngày. Cờ lâm nước bí hẹn bao ngày.
(Bùi Khánh Đản) (Bùi Khánh Đản)


Bài thơ thứ 5:

Bài thơ thông thường với nội dung tả chuyện "cô gái trẻ lấy ông già" (bên trái) nhưng đọc
kỹ thì thấy có Tập danh những vị thuốc Bắc trong bài thơ (bên phải).


GÁI LẤY ÔNG GIÀ GÁI LẤY ÔNG GIÀ

Thuyền quyên chỉ thiệt nết tề voi Thuyền quyên chỉ thiệt nết tề voi
Lừa bạch đầu ông trổ lấy mòi Lừa bạch đầu ông trổ lấy mòi
Quân tử vò vè nhăn nớu (nướu) sún Quân tử vò vè nhăn nớu (nướu) sún
Nữ trinh thỏ thẻ quẹt râu còi Nữ trinh thỏ thẻ quẹt râu còi
Trang huê phấn nớ ưng trăm lượng Trang huê phấn nớ ưng trăm lượng
Sánh cốt bì nầy hổ một thoi Sánh cốt bì nầy hổ một thoi
Chấp mối tơ thừa cam toại hẵng? Chấp mối tơ thừa cam toại hẵng?
Vong linh Tiên Bửu vít (vết) còn roi. (*) Vong linh Tiên Bửu vít (vết) còn roi.
(Võ Hanh Thông) (Võ Hanh Thông)

(*) Chú thích: Theo Truyện thơ "Lão Trượng Tiên Bửu"; Tiên Bửu là gái trẻ lấy ông già (Lão
Trượng). Bài thư còn dùng vận Từ Thứ.

Tập Danh động vật và thực vật


Bài thơ thứ 6:

Bài thơ thông thường với nội dung tả chuyện "con nít lấy ông già" (bên trái) nhưng đọc
kỹ thì thấy có 2 biến thể tập danh của những con vật và những thực vật làm thuốc Bắc trong bài
thơ (bên phải).




CON NÍT LẤY ÔNG GIÀ CON NÍT LẤY ÔNG GIÀ

Chim quyên bã đậu nhánh thoi voi Chim quyên bã đậu nhánh thoi voi
Mang lấy đầu ông chẳng mặn mòi Mang lấy đầu ông chẳng mặn mòi
Phụng ước thung dung ăn trái trúc Phụng ước thung dung ăn trái trúc
Thỏ đâu cam toại ấp cây còi Thỏ đâu cam toại ấp cây còi
Liên kiều thước bắc so le nhịp Liên kiều thuớc bắc so le nhịp
Sơn giáp ngựa biên dục dặc roi Sơn giáp ngựa biên dục dặc roi
Loan chạ tử cô đành phận ấy Loan chạ tử cô đành phận ấy
Kén lừa quân tử đáng ngàn thoi. Kén lừa quân tử đáng ngàn thoi.
(Vô Danh Thị) (Vô Danh thị)




(*) Chú thích:

Tập danh những động vật = quyên, mang, phụng, thỏ, thước, ngựa, loan và lừa.

Tập danh thực vật làm vị thuốc bắc = bã đậu, đầu ông, thung dung, cam toại, liên kiều,
sơn giáp, tử cô và quân tử.



Tập Danh Nhân vật


Bài thơ thứ 7:

Bài thơ thông thường tả nội dung người "học trò" (bên trái) nhưng đọc kỹ thì thấy có tập
danh của những bộ phận trong thân thể con người trong bài thơ (bên phải).


HỌC TRÒ HỌC TRÒ

Dài lưng tốn vải lại ăn no Dài lưng tốn vải lại ăn no
Nghĩ ngán cho thân phận học trò Nghĩ ngán cho thân phận học trò
Thù nước thù vua ngay mặt chịu Thù nước thù vua ngay mặt chịu
Công sưu công ích cắm đầu lo Công sưu công ích cắm đầu lo
Vẫn giương mắt ếch ra mà oán Vẫn giương mắt ếch mà ra quáng
Còn ngậm lông mèo chả sợ ho Còn ngậm lông mèo chả sợ ho (*)
Nói đến chuyện đời tai điếc đặc Nói đến chuyện đời tai điếc đặc
Rung đùi, chỉ nghĩ "tám đùi" to. Rung đùi, chỉ nghĩ "tám đùi" to. (*)
(Nhì Mỹ) (Nhì Mỹ)

(*) Chú thích (của tác giả):

Ngậm lông mèo = ngậm bút lông

Tám đùi: Văn xưa gọi là "bát cổ" dịch là "tám vế", vế (bắp) đồng nghĩa với đùi.





Tập danh Cảnh vật.


Bài thơ thứ 8:

Bài thơ thông thường tả nội dung về "chiều thu" nhưng đọc kỹ thì có thấy tập
danh của những màu sắc trong bài thơ . Biến thể nầy còn gọi là "Sắc thái".


CHIỀU NỐI MÙA THU
 Trời thu bóng ác rực màu vang
Trườn trượt vào lưng dặng núi vàng
Cánh nhạn chiều tà sương lót trắng
 Chòm mây mưa nhạt khói màu lam
 Lầu thu thoát nắng nâng rèm tía
Vườn nắng còn đây nở đóa vàng
Nếu chẳng vương tìm hoa súng tím
Thì đâu được ngắm nguyệt da cam.
(Toại Khang)



Tập Danh Thực vật và Sự vật


Bài thơ thứ 9:

Bài thơ thông thường có nội dung tả "O Đoài" nhưng đọc kỹ thì thấy có 2 Tập Danh.

Một Tập Danh những loại bánh và một Tập Danh của Bát Quái (8 quẻ)




ĐƯA O ĐOÀI BÁN BÁNH 
Vẻ ngọc càng say rượu ít nồng
Kìa ai vòng khảm đúc hình dung
Cấn nơi quán khách e dầy dụa
Chấn bức mành ba những ước mong
Chiếc lá tốn công dòng bích thủy
Dấu bèo ly hận ngọn đông phong 
Nhắm em xem chợ lời khôn hỏi
 Ngảnh mặt non đoài mảnh ráng hồng.
(Tam Xuyên )




(*) Chú thích:

Tập danh bát quái: Càng, khảm, cấn, chấn ,tốn, ly, khôn, đoài.

Tập danh các loại bánh: bánh ít, bánh đúc, bánh dầy, bánh ước, bánh lá, bánh bèo, bánh
hỏi và bánh ráng.




Bài thơ thứ 10:

Bài thơ thông thường có nội dung tả một người "tương tư"nhưng đọc kỹ thì
thấy có tập danh những mẫu tự trong bài thơ :

THƠ GHẸO M.L. THƠ GHẸO M.L.

Những ngậm ngùi xuân giận ủ ê (Ê)
Vì ai khương khíu nỗi riêng tê (T)
Huyền vi máy tạo e thời lậu (E)
Sắc sảo câu thơ ít chữ đề (X)
Nặng gánh tương tư ngày ép uổng (F)
Hỏi nơi kỳ ngộ dạ đê mê (Đ
Trăm năm cốt cách còn y cũ (Y)
Giấy rách khuyên em giữ lấy lề. (M)
(Vô Danh thị) 




Bài thơ thứ 11:

Bài thơ thông thường có nội dung tả "đóa sen" nhưng đọc kỹ thì thấy có tập
danh những con số trong bài thơ . Biến thể Tập danh nầy được gọi là Toán thi


NHẤT SEN HỒNG 

Một đóa sen hồng vẫn tỏa hương
Trời quang bảy cánh lại thêm hường 
Bùn nhơ, chín kiếp tâm hoài tỏ 
Nướn bẩn, năm đời dạ mãi vương 
Giữ trắng linh hồn nơi vạn nẻo 
Gìn trong dáng thể giữa trăm đường 
Thơ đầy triệu áng văn ngàn quyển T
Sẽ tặng muôn người ở bốn phương. 
(Sông Lam) 

Bài thơ thứ 12:

Bài thơ thông thường có nội dung tả một "Lão chài" nhưng đọc kỹ thì có tập
danh Bát Quái (tám quẻ) của kinh Dịch 

LÃO CHÀI LÃO CHÀI

Càng ngày xuôi ngược dễ ai cầm 
Khảm vá chày quăng mé vịnh dầm 
Cấn vác buồm loan tùy ý muốn 
Chấn qua lái phụng mặc tình đâm 
Tốn hao chi nại miền trăng gió 
Ly lánh đừng mơ cuộc thế lầm 
Khôn dại mặc ai, chài, vãi, kéo
Đài mây thú vị cũng vui thầm 
(Lê Uyên Sanh)




(*) Chú thích: Bài thơ dùng Hạn Vận "cầm, dầm, đâm, lầm, thầm".

Bài thơ thứ 13:

Bài thơ thông thường với nội dung tặng một tao đàn tên là Diêu Trì  nhưng đọc
kỹ thì thấy có tập danh của tám quẻ (bát quái) trong 8 câu của bài thơ.


TẶNG ĐÀN DIÊU TRÌ 

Càng tăng vẻ đẹp cảnh Diêu Trì 
Nhả ngọc hàng hàng khảm nét thi 
Thời cuộc cấn gay dầu khắp cõi 
Tinh thần chấn chỉnh vẫn riêng kỳ 
Đã rằng tương ứng đừng khiêm tốn 
Những ước tao phùng mựa thoát ly 
Thượng uyển khôn ngừng câu xướng họa 
Non đoài hiệp khách đợi qua thì.

(Song Thanh) 


Bài thơ thứ 14:

Bài thơ thông thường với nội dung tả "cuộc đánh cờ tướng", trong đó tác giả có ghi tên
của những con cờ vì có liên quan đến nội dung của bài thơ ; nhưng đọc kỹ thì thấy có
biến thể tập danh của tám quẻ (bát quái) và tập danh nầy không có liên quan gì đến nội dung của
bài thơ.

CUỘC CỜ CUỘC CỜ

Cuộc cờ càng gẫm, chốt nên ra 
Sĩ tượng đừng rời mức khảm xa 
Tướng đỏ cấn gay giăng pháo thủ 
Binh đen chấn chỉnh ủi xe qua 
Liều thân tốn sức vùi tên đạn 
Vì nước ly tình giúp trảo nha 
Vó ngựa khôn ngưng phi tấn mãi 
Cung đoài trổi khúc khải hoàn ca.
(Song Thanh) 


*

Theo đúng như bài thơ theo biến thể Tập danh đầu tiên của ông Lê Quý Đôn "Rắn đầu biếng
học" ta có định nghĩa của biến thể Tập danh:

Trong bài thơ có tập hợp danh từ của sinh vật, cảnh vật hay sự vật trong mỗi câu thơ mà
không có liên quan gì đến nội dung diễn tả theo đề tài của bài thơ.

Nếu tập hợp danh từ có liên quan đến nội dung diễn tả theo đề tài của bài thơ thì cũng là
một bài thơ thông thường chứ không phải là bài thơ theo biến thể Tập danh.

Thí dụ như bài thơ dưới đây, tập hợp danh từ của những nhân vật (Kim, Mã, Sở, Thúc, Bạc, Từ,
Hồ và Thổ) có liên quan đến nội dung diễn tả đề tài của bài thơ là Kiều Nương tình sử.




KIỀU NƯƠNG TÌNH SỬ

Tấm lòng trong trắng gởi chàng Kim
Yêu trước, mại sau, Mã mới tìm
Sở lắm gian tà, chê tận mặt
Thúc bao âu yếm, để vào tim
Lại vì thói Bạc, ngơ hồn bướm
Rồi đội ơn Từ, khỏe cánh chim
Trổi khúc hồ cầm, Hồ dở giọng
Dứt tình chú Thổ nhạc tình im.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)

Đây cũng là một bài thơ không thuộc biến thể Tập danh:
NÀNG THƠ TRÁCH THI NHÂN

Phá phối cho lơi mối chỉ hồng
Thừa nhàn sao nỡ chịu phòng không?
Duyên văn chàng hết đau lòng nhớ
Nợ chữ thiếp còn mỏi dạ trông
Năm vận u buồn, thương nghĩa mặn
Tám câu ai oán tiếc tình nồng
Trắc bằng dầu chẳng hòa in nhịp
Chuyển lại cho êm kết giải đồng.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)



27a. Tập Tính Danh


Từ Biến thể Tập Danh (Tập Danh Thể) có biến thể Tính Danh
Tập Danh = tập hợp danh từ của sinh vật, cảnh vật hay sự vật trong mỗi câu thơ của bài thơ mà
không có liên quan gì đến nội dung diễn tả theo đề tài của bài thơ. (Tập = tập hợp).
Tập Tính Danh = tập hợp tánh danh quan trọng, tục ngữ, thành ngữ, điển tích... trong mỗi câu
thơ của bài thơ.


Thí dụ như dưới đây là một bài thơ thông thường bàn về chuyện con cọp nhưng đọc kỹ
thì có một câu tục ngữ trong mỗi câu thơ của bài thơ:


NĂM CỌP NÓI CHUYỆN CỌP 

Miệng hùm nọc rắn hại đời trai 
Bạo hổ bằng hà, dại những ai!
Thả hổ về rừng di đại họa 
Vẽ hùm thêm cánh giả anh tài 
Hùm tha, ma bắt người đền mạng 
Cú góp, cọp ăn kẻ sợ oai 
Họa hổ họa bì nan họa cốt 
Miệng hùm gan sứa nói hàng hai.
(Phan Thượng Hải) 




Dưới đây là một bài thơ thông thường tả "tình anh lính chiến"  nhưng đọc kỹ thì thấy có
tên bài hát trong mỗi câu của bài thơ.

TÌNH ANH LÍNH CHIẾN

Đám cưới đầu xuân tỏ rạng ngời. 
Ngày tròn tuổi lính mộng trăng khơi
Bài ca kỷ niệm vầng dương hé 
Nhận diện thời gian ánh hỏa mời. 
Bóng nhỏ đường chiều vương ái ngại. 
Đêm dài chiến tuyến nhớ chơi vơi. 
Lời tình viết vội tràng hoa kết 
Mộng ước mai sau sánh tuyệt vời.
(Nguyễn Quốc Bình) 


Ông Ông Ích Khiêm có làm một bài thơ theo biến thể Tập Danh nhưng cũng theo biến thể Tập
Tính Danh.

Bài thơ "cảm thuật" nhưng đọc kỹ thì có tập danh những con vật trong mỗi câu của bài
thơ:


CẢM THUẬT CẢM THUẬT

Mình ốc mang rêu rửa sạch ai 
Rung cây nhát khỉ thói quen hoài 
Mèo cào xuể vách còn chi sức 
Sứa nhảy qua đăng mới gọi tài 
Nhớ kẻ dang roi tung vó ngựa 
Đố ai lấy thúng úp mình voi 
Truông chưa qua khỏi đừng khinh cọp. 
Chim sổ lồng ra để đó coi.

(Ông Ích Khiêm)




Tuy nhiên bài thơ "cảm thuật" nầy cũng có một phần của những tục ngữ, ca dao và điển tích
trong những câu trong bài thơ:




CẢM THUẬT

Mình ốc mang rêu rửa sạch ai 
Rung cây nhát khỉ thói quen hoài 
Mèo cào xuể vách còn chi sức 
Sứa nhảy qua đăng mới gọi tài 
Nhớ kẻ dang roi tung vó ngựa 
Đố ai lấy thúng úp mình voi 
Truông chưa qua khỏi đừng khinh cọp. 
Chim sổ lồng ra để đó coi. 

(Ông Ích Khiêm)



Chú thích:

Mình ốc mang rêu từ câu tục ngữ: Ốc mang rêu chê nghêu lấm bùn.
Rung cây nhát khỉ là câu tục ngữ.

Mèo cào vách và Sứa nhảy qua đăng từ câu tục ngữ: Mèo cào vách, sứa nhảy đăng.

Kẻ dang roi tung vó ngựa là Lưu Bị thời Tam Quốc dang roi tung vó ngựa Đích lô nhảy
qua suối Đàn khê nên thoát chết khi bị giặc theo đuổi.

Lấy thúng ấp voi từ câu ca dao: Đừng mong lấy thúng ấp voi. Hễ úp đằng trước thì lòi

đằng sau.

Truông chưa qua đừng khinh cọp là từ câu tục ngữ: Qua chưa khỏi truông đã cởi truồng
chửi cọp.

Chim sổ lồng là từ câu ca dao: Ai đem con sáo qua sông. Cho nên con sáo sẩy lồng bay

xa.




LIÊN QUAN ĐẾN MỘT BÀI THƠ (Bát cú)




Vấn Đáp


Liên Ngâm


Phú Đắc




Vấn Đáp





Đây là biến thể xuất hiện sau năm 1975
Vấn Đáp = Lần lượt những câu thơ là câu hỏi và câu trả lời (có thể kết hợp với lối triệt hạ để tạo
ra câu đáp bỏ lửng). (Vấn = hỏi. Đáp = trả lời. Vấn đáp = hỏi và đáp).




NGỌC HOÀNG HỎI, TÁO TRẢ LỜI

Năm rồi chính sự có gì hay?
Khởi tấu: Trần gian nhất thể này...
Đốt củi hô hào dân phục chứ?
Chơi đòn lấp liếm bạn gờm thay...
Vì sao lợi ích hòng phân mảng?
Cũng bởi tài danh xúi ngập mày...
Đổi mới khâu nào cho hữu hiệu?
Ngọc Hoàng biết tỏng ấy xưa nay...
(Nguyễn Quốc Bình)


Liên Ngâm


Liên Ngâm = nhiều người lần lượt nhau làm chung thành một bài thơ bát cú. (Liên = liền với
nhau).

Biến thể này có từ thơ Hán ngữ Trung Hoa từ lâu. Đây là bản dịch thơ Hán ngữ ra Việt ngữ của
Tô Chẩn trong Tây Du Ký:



Tam Tạng ngâm:

Lòng thiền tợ nguyệt không mà rạng
Thập Bát Công ngâm:

Thi tứ như trời mới lại thanh

Cô Trực Công ngâm:

Cầu nhiệm có duyên tày gấm tốt
Lăng Không Tử ngâm:

Diệu hay chẳng vít sánh châu lành
Phất Vân Tử ngâm:

Sáu trào sơ thử văn chương lấn
Bốn thể chia ra nhã tụng rành

Tam Tạng ngâm:

Nước chửa kịp sôi năm vận đủ

Ngâm qua mát mẻ cả thân mình.




Liên Ngâm của 5 người thành ra một bài thơ:




VÔ ĐỀ

Lòng thiền tợ nguyệt không mà rạng
Thi tứ như trời mới lại thanh
Cầu nhiệm có duyên tày gấm tốt
Diệu hay chẳng vít sánh châu lành
Sáu trào sơ thử văn chương lấn
Bốn thể chia ra nhã tụng rành
Nước chửa kịp sôi năm vận đủ
Ngâm qua mát mẻ cả thân mình.




Trong văn học sử nước Việt có tương truyền Liên Ngâm giữa chúa Tiên Nguyễn Hoàng và ông
Đào Duy Từ.




Nguyễn Hoàng đọc:

Vó ngựa sườn non đá chập chùng
Cầu hiền lặn lội biết bao công

Đào Duy Từ đọc:

Đem câu phò Hán ra dò ý

Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng
Nguyễn Hoàng đọc:

Lãnh thổ đoán chia hai xứ sở

Biên thùy vạch sẵn một dòng sông

Đào Duy Từ đọc:

Ví chăng không có lời Nguyên Trực
Thì biết đâu mà đoán Ngọa Long

Ghép lại thành một bài thơ:
CẦU HIỀN

Vó ngựa sườn non đá chập chùng
Cầu hiền lặn lội biết bao công
Đem câu phò Hán ra dò ý
Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng
Lãnh thổ đoán chia hai xứ sở (*)
Biên thùy vạch sẵn một dòng sông (*)
Ví chăng không có lời Nguyên Trực (*)
Thì biết đâu mà đoán Ngọa Long. (*)
(Nguyễn Hoàng và Đào Duy Từ)




(*) Chú thích:

2 câu thơ thứ 5 và 6 tỏ ý định của ông Nguyễn Hoàng chia làm 2 xứ lấy 1 con sông làm
ranh giới (là sông Gianh).

Trong Tam Quốc chí, Từ Nguyên Trực (Từ Thứ) tiến cử Ngọa Long Khổng Minh Gia
Cát Lượng cho Lưu Bị trước khi phải về với Tào Tháo.




Theo Diên Hương, Liên Ngâm có thể làm thành một bài thơ Tràng Thiên (trên 8-12 câu).

Phú đắc


Phú Đắc = bài thơ giải thích và phát triển ý của một câu thơ hay ca dao hay tục ngữ, nội dung
phải phù hợp với sự việc đó.

Từ ngữ "Phú Đắc" chỉ dùng riêng để định nghĩa thể văn thơ nầy mà thôi.




Thí dụ 1
Câu thơ:

Bà già đã bảy mươi tư

Ngồi trong cửa sổ gửi thư kén chồng
Bài thơ:

GIÀ CÒN MUỐN LẤY CHỒNG

Đã trót sinh ra kiếp má đào
Bảy mươi tư tuổi có là bao
Xuân xanh xấp xỉ hàm răng rụng
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao
Chữ "nhất nhi chung" đành đã vậy (*)
Câu "tam bất hiếu" nữa làm sao (*)
May mà chim được ông chồng trẻ
Họa có sinh ra được chút nào.
(Nguyễn Khuyến)




(*) Chú thích:

Rút trong câu "Phụ nhân tòng nhất nhi chung", nghĩa là người đàn bà suốt đời chỉ theo
một chồng.

Lấy trong câu "Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại", nghĩa là tội bất hiếu có ba mà sự không
có con là lớn nhất.

Thí dụ 2
Câu thơ:

Đêm xuân một khắc ngàn vàng khó mua.


Bài thơ:


ĐÊM XUÂN MỘT KHẮC

Trầm quyện hương đào tỏa gió đông
Vàng gieo bờ liễu nguyệt dòm song
Muốn soi hồng lạp tìm hoa chủ
Khôn đổi hoàng kim lấy giọt đồng
Sương trắng nhuộm đầu thôi mấy chốc
Tiền xanh chớp mắt cũng là không
Sá chi cừu mã cho thêm bận
Hãy đổ nguyên tiêu chén rượu nồng.
(Vô Danh thị)


Thí dụ 3
Câu tục ngữ:

Vừa mưa vừa nắng cái cẳng đánh nhau. Bồ câu ra chữa tí nữa thì tạnh.


Bài thơ:


CÁI CẲNG ĐÁNH NHAU

Vừa mưa vừa nắng bởi vì đâu?
Cái cẳng làm sao lại đánh nhau?
Vác gậy bà Chằn phang dưới gối
Vơ đùi ông Hểnh choảng lên đầu
Cha Căng mất vía bon lên trước
Chú Kiết kinh hồn lẩn lại sau
Cái cẳng từ rày còn thế nữa
Thì ta đi rủ cái bồ câu.

(Một quan Trạng đời nhà Lê)




Thí dụ 4

Câu thành ngữ: Theo voi ăn bã mía.
Bài thơ:

THEO VOI ĂN BÃ MÍA

Ăn mía theo voi tiếng đến giờ
Vì chi miếng bã để trò dơ
Rón chân những chực khi vòi nhả
Rát lưỡi đành xơi cái ngọt thừa
Ấy đã theo đuôi thời phải hít
Còn đâu nên tấm nữa mà vơ
Nghìn năm bia miệng là câu thế
Những khách ăn tàn đã biết chưa.
(Tản Đà)




Thí dụ 5
Câu ca dao:

Đêm khuya gà gáy ó o

Sao không thức dậy mà lo sách đèn.


Bài thơ:


ĐÊM KHUYA GÀ GÁY Ó O

SAO KHÔNG THỨC DẬY MÀ LO SÁCH ĐÈN

Giục giã canh gà trổi ó o
Trước đèn la liệt sách vài pho
Non thần êm ái còn vơ vẫn
Biển thánh mênh mông chửa lặn mò
Hãy dậy mau mau, học chóng chóng
Sao nằm mãi mãi, ngáy ro ro?
Công danh chớ vội đừng cho trễ
Giục giã canh gà trổi ó o.

(Lãng Ba Phan Văn Bộ)


Thí dụ 6
Câu ca dao:

Chồng tôi áo rách tôi thương

Chồng người áo gấm xông hương mặc người
Bài thơ:

CHỒNG TÔI ÁO RÁCH

Vạt áo chồng tôi rách, thấy sườn
Nhìn chồng nhắm áo nghĩ mà thương
Mãi choàn đi sớm che mưa nắng
Hằng bận về khuya đỡ gió sương
Tiền bạc hiếm hoi nên sắm ít
Vải bô tơi tả bởi dùng thường
Xấu ngoài, trong tốt, xem càng quí
Hơn mặc gấm là ướp phấn hương.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)

Thí dụ 7
Câu ca dao:

Mẹ mong gả thiếp về vườn

Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh.


Bài thơ:


LẤY CHỒNG NHÀ QUÊ

Một hai quyết gả thiếp về vườn
Tài sắc như vầy chẳng tiếc thương
Hằng tưởng kỹ sư hay bác sĩ
Đâu dè chủ xã hoặc thầy hương
Trăm điều mơ mộng đều dang dở
Muôn mối u sầu mãi vấn vương
Bơ sữa bén mùi ưa đáo để
Chê thay bông bí, chán dưa hường.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)




Thí dụ 8
Câu ca dao:

Ăn sung nằm gốc cây sung

Lấy anh thì lấy nằm chung không nằm

Bài thơ:

VÔ ĐỀ

Thời thế xui nên giả vợ chồng
Lấy anh chưa dễ đã nằm chung
Ừ chơi cho nói toi đồng bạc
Há dễ cho ai nếm má hồng
Cười gượng lắm khi che nửa mặt
Khóc thầm vì nỗi khác hai lòng
Bao giờ duyên mới thay duyên cũ
Thỏa thuận cùng nhau tát bể đông!
(Phan Bội Châu)




LIÊN QUAN ĐẾN LÀM NHIỀU BÀI THƠ (thất ngôn và ngũ ngôn)





Từ 1 bài thơ làm thành tất cả 2 bài thơ

Hoán Vận


Thuận Nghịch Độc


Từ 1 bài thơ làm thành ra tất cả 4 bài thơ

Tứ Chuyển Hồi Văn


Từ 1 bài thơ làm thành ra tất cả 5 bài thơ

Ngũ Chuyển Hồi Văn


Từ 1 bài thơ làm thành ra tất cả 6 bài thơ

Lục Chuyển Hồi Văn


Làm tất cả 5 bài thơ từ 1 bài thơ

Xa Luân Ngũ Bộ


Lộc Lư Ngũ Bộ


Làm nhiều bài thơ nối với nhau

Thủ Vĩ Liên Hườn Thủ Vĩ Tương Lân - Liên Hườn Thuận Nghịch Vận - Thủ Vĩ
Quán Châu.


Liên Hườn = Ô Thước Kiều





Làm nhiều bài (của nhiều tác giả) từ 1 hay nhiều bài làm bài Xướng (của một tác giả)

Họa Vận (Xướng Họa)


Tiếp Vận


Cùng một tựa đề




Hoán vận


Hoán vận = 2 bộ vận được gieo ở các vị trí của chữ thứ 5 và chữ thứ 7 của 8 câu thơ (bát cú),
khi hoán đổi vị trí hai chữ nầy thành ra 2 vần bằng và trắc khác nhau thành ra 2 bài thơ. (Hoán =
đổi cho nhau).


BIỂN NHỊP HÒA


Vần bằng:

Sóng biển dâng trào vũ điệu êm
Ngàn dương réo rắt phủ tơ mềm
Mưa khều ý nhạc hoa bừng trỗ
Nắng dẫn men đời nụ ngấm thêm
Vẳng gió tìm đôi quàng giữa bụi
Dềnh trăng vẽ nửa nhú bên thềm
Như vừa gội loáng tơ dòng chải
Lọn tóc sương hờ... giũ nhẹ đêm.




Vần trắc:

Sóng biển dâng trào êm điệu vũ
Ngàn dương réo rắt mềm tơ phủ
Mưa khều ý nhạc trỗ bừng hoa
Nắng dẫn men đời thêm ngấm nụ
Vẳng gió tìm đôi bụi giữa quàng
Dềnh trăng vẽ nửa thềm bên nhú
Như vừa gội loáng chải dòng tơ
Lọn tóc sương hờ... đêm nhẹ giũ.


(Nguyễn Quốc Bình)

Đây cũng là một biến thể mới xuất hiện vào thế kỷ 21.

Thuận nghịch độc


Lối thơ nầy xuất phát từ Hồi Văn thi tức là đọc xuôi hay đọc ngược thì bài thơ và câu thơ đều có
nghĩa.


*
Thuận Nghịch Độc = đọc xuôi hay đọc ngược thì bài thơ và câu thơ đều có nghĩa, như vậy làm
thành 2 bài thơ. (Độc = đọc. Thuận độc = đọc xuôi. Nghịch độc = đọc ngược).

Tổng quát thì có 5 dạng đọc Thuận (xuôi) hay Nghịch (ngược) thì có 2 bài thơ với cùng một tựa

đề. Đây là 5 Dạng của biến thể Thuận Nghịch Độc
Dạng 1: Đọc ngược từ cuối bài lên, thành ra một bài thơ khác cùng vần (bằng hoặc trắc)
Dạng 2: Đọc ngược từ cuối bài lên, thành ra một bài thơ khác đối vần (từ bằng sang trắc
hoặc ngược lại)
Dạng 3: Đọc ngược từ cuối bài lên vẫn ra bài thơ y hệt
Dạng 4: Đọc ngược từ cuối mỗi câu lại, thành ra một bài thơ khác
Dạng 5: Đọc ngược từ cuối mỗi câu lại, vẫn ra bài thơ y hệt
(Dạng 1 là phổ thông nhất).



- Dạng 1: Đọc ngược từ cuối bài lên, thành ra một bài thơ khác cùng vần (bằng hoặc trắc). Dạng
1 thì phổ thông nhất.

Thuận độc (Đọc xuôi)
EM VÀ XUÂN

Em cười tiếng bổng vút triền xuân
Ngọt đẫm kìa môi ửng sắc ngần
Rèm tóc chải mây hàng liễu gợn
Mắt hồ in ngọc phím chiều ngân
Xem vừa ý nguyện khơi vàng đá
Tỏ sẵn nguồn duyên định số phần
Kèm phấn nhụy xinh vườn trĩu nở
Em chào nắng nhỉ, thế là xuân!
(Nguyễn Quốc Bình)

Nghịch độc (Đọc ngược)
EM VÀ XUÂN

Xuân là thế nhỉ, nắng chào em
Nở trĩu vườn xinh nhụy phấn kèm
Phần số định duyên nguồn sẵn tỏ
Đá vàng khơi nguyện ý vừa xem
Ngân chiều phím ngọc in hồ mắt
Gợn liễu hàng mây chải tóc rèm
Ngẩn sắc ửng môi kìa đẫm ngọt
Xuân triền vút bổng tiếng cười em.
(Nguyễn Quốc Bình)




- Dạng 2: Đọc ngược từ cuối bài lên, thành ra một bài thơ khác đối vần (từ bằng sang trắc hoặc
ngược lại)

Thuận độc (Đọc xuôi)
ÁNH TRĂNG THƠ

Trống nhịp dâng ngời mắt trẻ thơ
Đèn sao rợp ánh thỏa mong chờ
Ngổng đầu, Lân chớp như dè dặt
Xoay gót, Địa nhường ấy vẩn vơ
Lộng sáng kìa trăng vành đĩa tỏa
Lười chây rõ Cuội bóng đa nhờ
Vống lời ngân điệu, dinh tùng gõ
Mộng ước giăng nào, tuổi kết nơ!
(Nguyễn Quốc Bình)

Nghịch độc (Đọc ngược)
ÁNH TRĂNG THƠ

Nơ kết tuổi nào giăng ước mộng
Gõ tùng dinh điệu, ngân lời vống
Nhờ Đa bóng Cuội rõ chây lười
Tỏa đĩa vành trăng kìa sáng lộng
Vơ vẩn ấy nhường Địa gót xoay
Dặt dè như chớp Lân đầu ngổng
Chờ mong thỏa ánh rợp sao đèn
Thơ trẻ mắt ngời dâng nhịp trống.
(Nguyễn Quốc Bình)




- Dạng 3: Đọc ngược từ cuối bài lên vẫn ra bài thơ y hệt
Thuận độc (Đọc xuôi)

THUỞ HOA NIÊN

Thương người áo nhẹ giũ muồi hương
Thả gót chiều quen bạn vắng trường
Tường bám mảng rêu ùn gió chạnh
Lá viền khung cảnh lắng hồn vương
Vương hồn lắng cảnh khung viền lá
Chạnh gió ùn rêu mảng bám tường
Trường vắng bạn quen chiều gót thả
Hương mùa giũ nhẹ áo người thương.
(Nguyễn Quốc Bình)

Nghịch độc (Đọc xuôi)
THUỞ HOA NIÊN

Thương người áo nhẹ giũ muồi hương
Thả gót chiều quen bạn vắng trường
Tường bám mảng rêu ùn gió chạnh
Lá viền khung cảnh lắng hồn vương
Vương hồn lắng cảnh khung viền lá
Chạnh gió ùn rêu mảng bám tường
Trường vắng bạn quen chiều gót thả
Hương mùa giũ nhẹ áo người thương.
(Nguyễn Quốc Bình)




- Dạng 4: Đọc ngược từ cuối mỗi câu lại, thành ra một bài thơ khác
Thuận độc (Đọc xuôi)

TRĂNG CHIỀU

Sóng dạo thuyền lay ráng đỏ chiều
Võng gài tơ nắng thả hồn phiêu
Dồn loang ngấn bọt tầng cao thấp
Đọng sũng diềm mây chỏm ít nhiều
Thưa nhánh cỏ xoè phơ phất nhạn
Mỏng làn sương ngút dật dờ tiêu
Hòa giao ánh mộng trời riêng ngỡ
Bóng nguyệt kề non vách xoải diều.
(Nguyễn Quốc Bình)

Nghịch độc (Đọc ngược)
TRĂNG CHIỀU

Chiều đỏ ráng lay thuyền dạo sóng
Phiêu hồn thả nắng tơ gài võng
Thấp cao tầng bọt ngấn loang dồn
Nhiều ít chỏm mây điềm sũng đọng
Nhạn phất phơ xoè cỏ nhánh thưa
Tiêu dờ dật ngút sương làn mỏng
Ngỡ riêng trời mộng ánh giao hòa
Diều xoải vách non kề nguyệt bóng.
(Nguyễn Quốc Bình)

- Dạng 5: Đọc ngược từ cuối mỗi câu lại, vẫn ra bài thơ y hệt
Thuận độc (Đọc xuôi)

LỜI THƯƠNG BÊN CÁNH VÕNG

Mỏng tiếng ru hời ru... tiếng mỏng
Võng thưa đều nhịp đều thưa võng
Ươm dày cội nghĩa cội dày ươm
Đọng thắm chồi ân chồi thắm đọng
Lời vẳng bước con bước chẳng lời
Bóng vươn tình nhẹ tình vươn bóng
Quang trời hẹn ước hẹn trời quang
Mọng trĩu làn hương, làn trĩu mọng.
(Nguyễn Quốc Bình)


Nghịch độc (Đọc ngược)

LỜI THƯƠNG BÊN CÁNH VÕNG

Mỏng tiếng ru hời ru... tiếng mỏng
Võng thưa đều nhịp đều thưa võng
Ươm dày cội nghĩa cội dày ươm
Đọng thắm chồi ân chồi thắm đọng
Lời vẳng bước con bước chẳng lời
Bóng vươn tình nhẹ tình vươn bóng
Quang trời hẹn ước hẹn trời quang
Mọng trĩu làn hương, làn trĩu mọng.
(Nguyễn Quốc Bình)


*

Năm 1904, nhơn trận bão năm Thìn làm sập mấy nhịp cầu Tràng Tiền (lúc bấy giờ có tên là cầu
Thành Thái theo tên của vua Thành Thái), vua Thành Thái có làm bài thơ theo thể Thuận
Nghịch Độc dạng 1.

Thuận Độc (Đọc xuôi)
VỊNH CẦU THÀNH THÁI

Ào ào trận gió nổi tây đông
Vận khí vừa nay giáp hội rồng
Cao điện chốn đều thay ngói cũ
Sắt cầu nay lại uốn lưng cong
Xao sông nước đổ bay đò nặng
Bán chợ người về khóc gánh không
Hao hại buổi trời theo chịu thế
Nào hay có gốc ấy sinh bông.
(Vua Thành Thái)

Nghịch Độc (Đọc ngược)




VỊNH CẦU THÀNH THÁI

Bông sinh ấy gốc có hay nào
Thế chịu theo trời buổi hại hao
Không gánh khóc về người chợ bán
Nặng đò bay đổ nước sông xao
Cong lưng uốn lại nơi cầu sắt
Cũ ngói thay đều chốn điện cao
Rồng hội giáp nay vừa khí vận
Đông tây nổi gió trận ào ào.
(Vua Thành Thái)


Người ta nói rằng bài thơ trên là một điềm gở, khiến cho vua Thành Thái bị Pháp truất phế bốn
năm sau đó (1907).


*

Thuận Nghịch Độc cũng có khác tựa đề như Thuận Nghịch độc theo Dạng 1 thì có 2 bài thơ với
tựa đề khác nhau:

Thuận độc (Đọc xuôi)
QUY Y

Lông hồng mạng bạc kiếp hoa ôi
Gió bụi yêu đời luyến cũng thôi
Bông nhuộm sắc thiền tâm quyết đã
Trái chờ cây phúc hưởng toan rồi
Trông trần mối đạo vùi hương lửa
Phải thế tình duyên nhắm hướng nồi
Chồng vợ tính chi, nguyền thọ phái
Không không, có có, có chè xôi.
(T.P.)

Nghịch độc (Đọc ngược)
HỒI TỤC

Xôi chè, có có, có không không
Phái thọ nguyền chi tính vợ chồng
Nồi hướng nhắm duyên tình thế phải
Lửa hương vùi đạo mối trần trông
Rồi toan hưởng phúc cây chờ trái
Đã quyết tâm thiền sắc nhuộm bông
Thôi cũng luyến đời yêu bụi gió

Ôi hoa kiếp bạc mạng hồng lông.
(T.P)

* Ba bài thơ của Phạm Thái




Thi sĩ sáng tạo ra biến thể Thuận Nghịch Độc và Yết Hậu chính là ông Phạm Thái. Tuy nhiên
Thuận Nghịch Độc của Phạm Thái có liên quan thêm tới thơ Hán ngữ.

Do đó có sự tích bài thơ "Vịnh Tố Nữ Đồ" của ông Phạm Thái với 3 Bản:

Trước hết Phạm Thái làm 2 bản Hán ngữ và Việt ngữ với cùng một nội dung cho một
Tựa đề.

Từ bản Việt ngữ (Đọc xuôi) có bản Việt ngữ (Đọc ngược) đúng theo thể Thuận Nghịch

Độc, dạng 1:

Bản Việt ngữ (Đọc ngược) lại là bản dịch ra Việt ngữ của Bản Hán ngữ

- Trước hết Phạm Thái làm 2 bản Hán ngữ và Việt ngữ với cùng một nội dung cho một Tựa đề.
Bản Hán ngữ = Bản A Bản Việt ngữ = Bản B

VỊNH TỐ NỮ ĐỒ VỊNH TRANH TỐ NỮ

Thanh xuân phá liễu lãnh tiêu phòng
 Hương tiêu gác vắng nhặt ca oanh
Cẩm trục đình châm ngại điểm trang
 Bận mối sầu khêu gượng khúc tranh
Thanh lượng độ tiên phù phất lục 
Sương đỉnh trướng gieo từng giục mộng

Đạm hy tán cúc thái sơ hoàng 
Nguyệt bên rèm tỏ dễ si tình
Tình si dị tố liêm biên nguyệt 
Vàng tha thướt, cúc tan hơi đạm
Mộng xúc tằng liêu trướng đỉnh sương
 Lục phất phơ, rêu đọ rạng thanh

Tranh khúc cưỡng khiêu sầu tự bạn
 Trang điểm ngại châm, dừng trục gấm
Oanh ca nhã vịnh các tiêu hương. 
Phòng tiêu lạnh lẽo khóa xuân xanh.
(Phạm Thái) (Phạm Thái)




- Từ bản Việt ngữ (Đọc xuôi) có bản Việt ngữ (Đọc ngược) đúng theo thể Thuận Nghịch Độc,
dạng 1:




Bản Việt ngữ (Đọc xuôi) = Bản B
VỊNH TRANH TỐ NỮ

Hương tiêu gác vắng nhặt ca oanh
Bận mối sầu khêu gượng khúc tranh
Sương đỉnh trướng gieo từng giục mộng
Nguyệt bên rèm tỏ dễ si tình
Vàng tha thướt, cúc tan hơi đạm
Lục phất phơ, rêu đọ rạng thanh
Trang điểm ngại chăm, dừng trục gấm
Phòng tiêu lạnh lẽo khóa xuân xanh.
(Phạm Thái)




Bản Việt ngữ (Đọc ngược) = Bản C
VỊNH TRANH TỐ NỮ

Xanh xuân khóa lẽo lạnh tiêu phòng
Gấm trục dừng chăm ngại điểm trang
Thanh rạng đọ rêu phơ phất lục
Đạm hơi tan cúc thướt tha vàng
Tình si dễ tỏ rèm bên nguyệt
Mộng giục từng gieo trướng đỉnh sương
Tranh khúc gượng khêu sầu mối bận
Oanh ca nhặt vắng gát tiêu hương.
(Phạm Thái)

- Bản Việt ngữ (Đọc ngược) lại là bản dịch ra Việt ngữ của Bản Hán ngữ
Bản Hán ngữ = Bản A Bản dịch ra Việt ngữ = Bản C

VỊNH TỐ NỮ ĐỒ VỊNH TRANH TỐ NỮ

Thanh xuân phá liễu lãnh tiêu phòng
 Xanh xuân khóa lẽo lạnh tiêu phòng
Cẩm trục đình châm ngại điểm trang 
Gấm trục dừng chăm ngại điểm trang
Thanh lượng độ tiên phù phất lục 
Thanh rạng đọ rêu phơ phất lục

Đạm hy tán cúc thái sơ hoàng 
Đạm hơi tan cúc thướt tha vàng
Tình si dị tố liêm biên nguyệt 
Tình si dễ tỏ rèm bên nguyệt

Mộng xúc tằng liêu trướng đỉnh sương
 Mộng giục từng gieo trướng đỉnh sương
Tranh khúc cưỡng khiêu sầu tự bạn 
Tranh khúc gượng khêu sầu mối hận
Oanh ca nhã vịnh các tiêu hương. 
Oanh ca nhặt vắng gát tiêu hương.
(Phạm Thái) (Phạm Thái)


Tứ Chuyển Hồi Văn


Tứ Chuyển Hồi Văn = từ 1 bài thơ (Nguyên bản) làm thành ra tất cả 4 bài thơ (ĐL Bát Cú):
Bài thơ thứ 1 (= Nguyên bản) = Đọc xuôi (như Nguyên Bản) là 1 bài ĐL Thất Ngôn Bát

Cú có Vần Bằng.

Bài thơ thứ 2 (= Nghịch bản) = Đọc ngược của Nguyên bản từ dưới lên trên làm ra 1 bài

ĐL Thất Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.

Bài thơ thứ 3 = Nguyên bản và Bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú
có Vần Bằng.

Bài thơ thứ 4 = Nghịch bản và Bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú
có Vần Bằng.

(Chuyển = truyền đi, dời đi. Hồi = xoay lại, trở về - quanh co. Tứ = 4)




Đây là 1 trong những bài thơ đầu tiên làm theo thể Tứ Chuyển Hồi Văn của thi sĩ Hàn Mặc Tử

dưới bút hiệu là Lệ Thanh đã đăng trong Phụ Nữ Tân Văn.

Bài thơ nầy được giới thiệu trong báo Phụ Nữ Tân Văn là theo biến thể Ngũ Chuyển Hồi Văn và
sau đó được giới thiệu là theo biến thể Lục Chuyển Hồi Văn nhưng thật sự bài thơ chỉ đúng với
tiêu chuẩn của Tứ Chuyển Hồi Văn.




CỬA SỔ ĐÊM KHUYA

Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương
Lạ cảnh buồn thêm dạ vấn vương
Tha thướt liễu in hồ dợn bóng
Hững hờ mai thoảng gió đưa hương
Xa người nhớ cảnh tình lai láng
Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng
Qua lại én ngàn dâu ủ lá
Hòa đàn sẵn có dế bên tường.
(Lệ Thanh - Hàn Mặc Tử)


Nguyên bản (= Đọc xuôi). Bài thơ ĐL Thất Ngôn Bát Cú có vần Bằng.


CỬA SỔ ĐÊM KHUYA

Tường bên dế có sẵn đàn hòa
Lá ủ dâu ngàn én lại hoa
Bàng bẽ rượu thơ ngâm bạn vắng
Láng lai tình cảnh nhớ người xa
Hương đưa gió thoảng mai hờ hững
Bóng dợn hồ in liễu thướt tha
Vương vấn dạ thêm buồn cảnh lạ
Gương lồng cửa rọi nguyệt cười hoa.


Nghịch bản (= Đọc ngược). Bài thơ ĐL Thất Ngôn Bát Cú có vần Bằng.


CỬA SỔ ĐÊM KHUYA

Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương
Lạ cảnh buồn thêm dạ vấn vương
Tha thướt liễu in hồ dợn bóng
Hững hờ mai thoảng gió đưa hương
Xa người nhớ cảnh tình lai láng
Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng
Qua lại én ngàn dâu ủ lá
Hòa đàn sẵn có dế bên tường.





Nguyên bản (Đọc xuôi) và bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu. Bài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Bằng.


CỬA SỔ ĐÊM KHUYA

Dế có sẵn đàn hòa
Dâu ngàn én lại hoa
Rượu thơ ngâm bạn vắng
Tình cảnh nhớ người xa
Gió thoảng mai hờ hững
Hồ in liễu thướt tha
Dạ thêm buồn cảnh lạ
Cửa rọi nguyệt cười hoa.


Nghịch bản (Đọc ngược) và bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu. Bài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Bằng.


CỬA SỔ ĐÊM KHUYA

Nguyệt rọi cửa lồng gương
Buồn thêm dạ vấn vương
Liễu in hồ dợn bóng
Mai thoảng gió đưa hương
Nhớ cảnh tình lai láng
Ngâm thơ rượu bẽ bàng
Én ngàn dâu ủ lá
Sẵn có dế bên tường.

Ngũ chuyển hồi văn


Ngũ Chuyển Hồi Văn = từ 1 bài thơ (Nguyên bản) làm thành ra tất cả 5 bài thơ (ĐL Bát Cú):
Bài thơ thứ 1 (= Nguyên bản) = Đọc xuôi (như Nguyên Bản) là 1 bài ĐL Thất Ngôn Bát

Cú có Vần Bằng.

Bài thơ thứ 2 (= Nghịch bản) = Đọc ngược của Nguyên bản từ dưới lên trên làm ra 1 bài

ĐL Thất Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.

Bài thơ thứ 3 = Nguyên bản và Bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú
có Vần Bằng.

Bài thơ thứ 4 = Nghịch bản và Bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú
có Vần Bằng.

Bài thơ thứ 5 = Nghịch bản và Bỏ 2 chữ cuối của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú
có Vần Trắc.

(Chuyển = truyền đi, dời đi. Hồi = xoay lại, trở về - quanh co. Ngũ = 5)




Đây là 1 trong những bài thơ đầu tiên làm theo thể Ngũ Chuyển Hồi Văn đã đăng trong báo Phụ
Nữ Tân Văn số 172 (tác giả bài thơ có bút hiệu là Tịnh Mỹ).

Bài thơ được giới thiệu trong báo Phụ Nữ Tân Văn là theo biến thể Tứ Chuyển Hồi Văn nhưng
thật sự là nó theo đúng tiêu chuẩn của Ngũ Chuyển Hồi Văn.




VÔ ĐỀ

Cao xanh có gọi nỏ riêng ai
Lại nỡ bia chi cớ sắc tài
Đào liễu nọ kia gàn trở bước
Nghĩa tình đây đó đọ so vai
Ao đầm bỏ luống sen cùng súng
Rẫy bái gieo càn cỏ với mai
Gào thét khó e càng vắn cổ
Nào người rõ nghĩa nợ trần phai.
(Tịnh Mỹ)

Nguyên bản (= Đọc xuôi). Bài thơ ĐL Thất Ngôn Bát Cú có vần Bằng.


VÔ ĐỀ

Cao xanh có gọi nỏ riêng ai
Lại nỡ bia chi cớ sắc tài
Đào liễu nọ kia gàn trở bước
Nghĩa tình đây đó đọ so vai
Ao đầm bỏ luống sen cùng súng
Rẫy bái gieo càn cỏ với mai
Gào thét khó e càng vắng cổ
Nào người rõ nghĩa nợ trần phai.


Nghịch bản (= Đọc ngược). Bài thơ ĐL Thất Ngôn Bát Cú có vần Bằng.


VÔ ĐỀ

Phai trần nợ nghĩa rõ người nào
Cổ vắng càng e khó thét gào
Mai với cỏ càn gieo bái rẫy
Súng cùng sen luống bỏ đầm ao
Vai so đọ đó đây tình nghĩa
Bước trở gàn kia nọ liễu đào
Tài sắc cớ chi bia nỡ lại
Ai riêng nỏ gọi có xanh cao.


Nguyên bản (Đọc xuôi) và bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu. Bài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Bằng.


VÔ ĐỀ

Có gọi nỏ riêng ai
Bia chi cớ sắc tài
Nọ kia gàn trở bước
Đây đó đọ so vai
Bỏ luống sen cùng súng
Gieo càn cỏ với mai
Khó e càng vắng cổ
Rõ nghĩa nợ trần phai.


Nghịch bản (Đọc ngược) và bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu. Bài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Bằng.


VÔ ĐỀ

Nợ nghĩa rõ người nào
Càng e khó thét gào
Cỏ càn gieo bái rẫy
Sen luống bỏ đầm ao
Đọ đó đây tình nghĩa
Gàn kia nọ liễu đào
Cớ chi bia nỡ lại
Nỏ gọi có xanh cao.


Nghịch bản (Đọc ngược) và bỏ 2 chữ cuối của mỗi câu. Đài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Trắc.



VÔ ĐỀ

Phai trần nợ nghĩa rõ
Cổ vắng càng e khó
Mai với cỏ càn gieo
Súng cùng sen luống bỏ
Vai so đọ đó đây
Bước trở gàn kia nọ
Tài sắc cớ chi bia
Ai riêng nỏ gọi có.

Lục Chuyển Hồi Văn


Lục Chuyển Hồi Văn = từ 1 bài thơ (Nguyên bản) làm thành ra tất cả 6 bài thơ (ĐL Bát Cú):
Bài thơ thứ 1 (= Nguyên bản) = Đọc xuôi (như Nguyên Bản) là 1 bài ĐL Thất Ngôn Bát

Cú có Vần Bằng.

Bài thơ thứ 2 (= Nghịch bản) = Đọc ngược của Nguyên bản từ dưới lên trên làm ra 1 bài

ĐL Thất Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.

Bài thơ thứ 3 = Nguyên bản và Bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú
có Vần Bằng.

Bài thơ thứ 4 = Nghịch bản và Bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú
có Vần Bằng.

Bài thơ thứ 5 = Nguyên bản và Bỏ 2 chữ cuối của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú
có Vần Trắc.

Bài thơ thứ 6 = Nghịch bản và Bỏ 2 chữ cuối của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú
có Vần Trắc.

(Chuyển = truyền đi, dời đi. Hồi = xoay lại, trở về - quanh co. Lục = 6)


*

Bài thơ đầu tiên làm theo thể Lục Chuyển Hồi Văn trong Văn Học Sử là bài thơ của vua Tự.



VÔ ĐỀ

Gương tà nguyệt xế đã ngoài song
Héo hắt sao trông quá sức trông
Thương bấy thiết tha lòng héo liễu
Nhớ thêm vàng vọ má phai hồng
Vương sầu xiết tưởng chi ngôi bắc
Ðoạn thảm xui buồn vã chạnh đông
Chàng hỡi biết chăng ai bực bội
Loan hàng viết thảo tả tình chung.

Nguyên bản (= Đọc xuôi). Bài thơ ĐL Thất Ngôn Bát Cú có vần Bằng.


VÔ ĐỀ

Gương tà nguyệt xế đã ngoài song
Héo hắt sao trông quá sức trông
Thương bấy thiết tha lòng héo liễu
Nhớ thêm vàng vọ má phai hồng
Vương sầu xiết tưởng chi ngôi bắc
Ðoạn thảm xui buồn vã chạnh đông
Chàng hỡi biết chăng ai bực bội
Loan hàng viết thảo tả tình chung.
(Tự Đức)


Nghịch bản (= Đọc ngược). Bài thơ ĐL Thất Ngôn Bát Cú có vần Bằng.


VÔ ĐỀ

Chung tình tả thảo viết hàng loan
Bội bực ai chăng biết hỡi chàng
Đông chạnh vã buồn xui thảm đoạn
Bắc ngôi chi tưởng xiết sầu vương
Hồng phai má vọ vàng thêm nhớ
Liễu héo lòng tha thiết bấy thương
Trông sức quá trông sao hắt héo
Song ngoài đã xế nguyệt tà gương.
(Tự Đức)


Nguyên bản (Đọc xuôi) và bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu. Bài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Bằng.


VÔ ĐỀ

Nguyệt xế đã ngoài song
Sao trông quá sức trông
Thiết tha lòng héo liễu
Vàng vọ má phai hồng
Xiết tưởng chi ngôi bắc
Xui buồn vã chạnh đông
Biết chăng ai bực bội
Viết thảo tả tình chung.
(Tự Đức)

Nghịch bản (Đọc ngược) và bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu. Bài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Bằng.


VÔ ĐỀ

Tả thảo viết hàng loan
Ai chăng biết hỡi chàng
Vã buồn xui thảm đoạn
Chi tưởng xiết sầu vương
Má vọ vàng thêm nhớ
Lòng tha thiết bấy thương
Quá trông sao hắt héo
Đã xế nguyệt tà gương.
(Tự Đức)


Nguyên bản (Đọc xuôi) và bỏ 2 chữ cuối của mỗi câu. Bài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Trắc.

VÔ ĐỀ

Gương tà nguyệt xế đã
Héo hắt sao trông quá
Thương bấy thiết tha lòng
Nhớ thêm vàng vọ má
Vương sầu xiết tưởng chi
Ðoạn thảm xui buồn vã
Chàng hỡi biết chăng ai
Loan hàng viết thảo tả.
(Tự Đức)


Nghịch bản (Đọc ngược) và bỏ 2 chữ cuối của mỗi câu. Đài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Trắc.


VÔ ĐỀ

Chung tình tả thảo viết
Bội bực ai chăng biết
Đông chạnh vã buồn xui
Bắc ngôi chi tưởng xiết
Hồng phai má vọ vàng
Liễu héo lòng tha thiết
Trông sức quá trông sao
Song ngoài đã xế nguyệt.
(Tự Đức)

*
Ông Diên Hương có bài thơ vịnh Tết theo thể Lục Chuyển Hồi Vân ký bút hiệu là T.P.

TẾT

Vành hoa cánh bướm nối xây vần
Tết đến người người gọi ấy xuân
Tranh liễn bánh chưng nhà chật chỗ
Lụa hàng ai mặc hội chen chân
Anh say đánh chén cùng khai bút
Chị thích đua khăn với sánh quần
Nhành điểm ánh mai vàng nứt nụ
Thanh hồng cảnh phới phới ngoài sân.

Nguyên bản (= Đọc xuôi). Bài thơ ĐL Thất Ngôn Bát Cú có vần Bằng.

TẾT

Vành hoa cánh bướm nối xây vần
Tết đến người người gọi ấy xuân
Tranh liễn bánh chưng nhà chật chỗ
Lụa hàng ai mặc hội chen chân
Anh say đánh chén cùng khai bút
Chị thích đua khăn với sánh quần
Nhành điểm ánh mai vàng nứt nụ

Thanh hồng cảnh phới phới ngoài sân.
(T.P.)

Nghịch bản (= Đọc ngược). Bài thơ ĐL Thất Ngôn Bát Cú có vần Bằng.

TẾT

Sân ngoài phới phới cảnh hồng thanh
Nụ nứt vàng mai ánh điểm nhành
Quần sánh với khăn đua thích chị
Bút khai cùng chén đánh say anh
Chân chen hội mặt ai hàng lụa

Chỗ chật nhà chưng bánh liễn tranh
Xuân ấy gọi người người đến Tết
Vần xây nối bướm cánh hoa vành.
(T.P.)


Nguyên bản (Đọc xuôi) và bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu. Bài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Bằng.


TẾT

Cánh bướm nối xây vần
Người người gọi ấy xuân
Bánh chưng nhà chật chỗ

Ai mặc hội chen chân
Đánh chén cùng khai bút
Đua khăn với sánh quần
Ánh mai vàng nứt nụ
Cảnh phới phới ngoài sân.
(T.P.)



Nghịch bản (Đọc ngược) và bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu. Bài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Bằng.


TẾT

Phới phới cảnh hồng thanh
Vàng mai ánh điểm nhành
Với khăn đua thích chị
Cùng chén đánh say anh
Hội mặt ai hàng lụa
Nhà chưng bánh liễn tranh
Gọi người người đến Tết
Nối bướm cánh hoa vành.
(T.P.)


Nguyên bản (Đọc xuôi) và bỏ 2 chữ cuối của mỗi câu. Bài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Trắc.


TẾT

Vành hoa cánh bướm nối
Tết đến người người gọi
Tranh liễn bánh chưng nhà
Lụa hàng ai mặc hội
Anh say đánh chén cùng
Chị thích đua khăn với
Nhành điểm ánh mai vàng
Thanh hồng cảnh phới phới.
(T.P.)


Nghịch bản (Đọc ngược) và bỏ 2 chữ cuối của mỗi câu. Đài thơ ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú có vần
Trắc.


TẾT

Sân ngoài phới phới cảnh
Nụ nứt vàng mai ánh
Quần sánh với khăn đua
Bút khai cùng chén đánh
Chân chen hội mặt ai
Chỗ chật nhà chưng bánh
Xuân ấy gọi người người
Vần xây nối bướm cánh.
(T.P.)


Xa luân ngũ bộ


Biến thể Xa luân ngũ bộ bắt đầu xuất hiện sau năm 1975.
Xa Luân Ngũ Bộ = Làm tất cả 5 bài thơ với một tựa đề:
Theo cách 1, các câu có vần của bài đầu tiên sẽ lần lượt là các câu phá đề của các bài lần
lượt từ trên xuống dưới; các vần khác theo trật tự mà luân chuyển. Cách 1 xử dụng các câu có
vần lần lượt làm các câu phá đề của mỗi bài.
Theo cách 2, các từ vần của bài đầu tiên sẽ lần lượt là từ vần cho các câu phá đề của các
bài lần lượt từ trên xuống dưới; các vần khác theo trật tự mà luân chuyển. Cách 2 xử dụng từ
vần lần lượt trong các câu phá đề của mỗi bài.

Có thể coi các bài là một chùm xướng họa mà bộ vần được chuyển tuần tự như bánh xe quay
tròn (xa luân).

Tóm lại, có gồm 5 bài thơ được liên kết nhau bởi 5 vận của bài đầu; 5 vận này được đảo đi đảo
lại có trình tự xoay vòng như cái bánh xe luân chuyển.

- Cách 1: Xử dụng các câu có vần lần lượt làm các câu phá đề của mỗi bài. Thí dụ dưới đây có
bộ vần "đây, này, mây, đầy, vây" chuyển xa luân trong 5 bài thơ.


TẢO MỘ


Hoa hồng đặt trước mộ phần đây (1)
Dịp lễ Vu Lan ghé chốn này (2)Gió chướng ào ào tung cát bụi
Mưa phùn rả rích phủ trời mây (3)
Kia mâm lễ mọn xem vừa thiếu
Nọ bó nhang thơm xếp tạm đầy (4)
Thổn thức dâng trào mi nhuốm lệ
Nghẹn ngào nhớ Mẹ nỗi buồn vây. (5)


Dịp lễ Vu Lan ghé chốn này (2)
Sương chiều quạnh quẽ tỏa như mây
Hương trầm kẻ đốt bay lan nhẹ
Hoa cỏ người đi ngã giập đầy
Đứng tạm bên mồ lưng ngập xá
Quỳ gần sát bệ gối chùn vây
Đôi lời khấn đượm yêu thương nhớ
Nghĩa nặng thâm tình bỏ lại đây.



Mưa phùn rả rích phủ trời mây (3)
Ráng đỏ còn vương vệt trải đầy
Ngập kín đường mòn rêu bủa chặt
Che hờ ngõ tắt đá chèn vây
Chuông chùa điểm tới giờ quyên nọ
Tiếng mõ đưa về giấc nguyện đây
Nấm đất sè sè bia vẩn bụi
Mờ đi ít chữ cảm thương này.



Nọ bó nhang thơm xếp tạm đầy (4)
Côn trùng não nuột nhỏ to vây
Nghe lòng tĩnh mịch cung trầm đó
Vọng tiếng u hoài vực thẳm đây
Nhạt nhẽo ban mai dời nắng ấy
Đìu hiu bóng tối ngợp tim này
Khuỵu chân bái lạy hoài thân mẫu
Tím cả dương tà lẫn sắc mây.



Nghẹn ngào nhớ mẹ nỗi buồn vây (5)
Giã biệt nhưng tình nặng trĩu đây
Luyến tiếc chi thêm đành ngoảnh vậy
Kêu than chẳng đủ phải quay này
Ngàn thu vĩnh biệt rưng rưng mắt
Vạn thuở chia lìa héo hắt mây
Mảnh nhỏ vành tang cài ngực áo
Hình như cũng khóc tuổi dâng đầy.

(Cẩn Vũ)

- Cách 2: Xử dụng từ vần lần lượt trong các câu phá đề của mỗi bài. Thí dụ dưới đây có bộ vần
"lành, tranh, thành, thanh, mành" chuyển xa luân trong 5 bài thơ.


MÀU TÍM HOA SIM

Miền quê vẫn rạng sắc hương lành (1)
Dẫu cuộc điêu tàn khởi chiến tranh (2)
Thắm nghĩa đôi lòng mơ sánh vẹn
Bền duyên một ngả ước xây thành (3)
Hoa cài áo đẹp chiều mây hửng
Nhụy ướp tim ngời buổi nắng thanh (4)
Bước hẹn, trai hùng băng lửa khói
Thuyền quyên nén dạ đẫm tơ mành. (5)

Súng dậy lan tràn buổi đấu tranh (2)Người đi biệt nẻo ước chưa thành
GIăng đầy mắt thẫn khơi hình nhỏ
Đọng trĩu tim ngùi gửi dáng thanh
Mỗi lúc băng đồi sim ngút khoảng
Từng phen thọc cứ lửa toang mành
Thương nàng vẫn đợi hoa màu tím
Nhẹ ngắt đài xinh gửi mộng lành...

Tình sâu ngõ hẹn khắc ghi thành (3)
Vẹn gửi trăng ngà dõi bóng thanh
Pháo dội, đời trai quàng hỏa tuyến
Đèn khêu, phận nữ ủ sương mành
Đan ngày thắm mộng hoa ngời tỏ
Kết thuở nồng ân trái đượm lành
Nỗi nhớ dài theo hồi chiến cuộc
Ai làm cách biệt ngả phân tranh...




Sấm chợt rung trời giữa buổi thanh (4)
Người em gục chết, tủi giăng mành
Chưa bừng luyến ái nồng mơ thỏa
Vội giã tình duyên úa mộng lành
Nẻo cũ phòng côi chìm ngóng đợi
Phương này bước lẻ gối giao tranh
Dòng va sóng dập thuyền tan vỡ
Đã hết từ đây ước nguyện thành.




Làn sương nhẹ quẩn hắt hiu mành (5)
Dấu cũ hoài nghi ước nguyện lành
Những tưởng vầy sum miền ái hợp
Đâu ngờ biệt cách ngả tương tranh
Niềm thương, ký ức hằng cung ngỏ
Nỗi nhớ, hành trang kết giọt thành
Bóng ngả chiều hoang biền biệt tím
Hương lòng một dải vấn trời thanh.


(Nguyễn Quốc Bình)


Lộc lư ngũ bộ


Biến thể Lộc lư ngũ bộ cũng bắt đầu xuất hiện sau năm 1975.

Lộc Lư Ngũ Bộ = Làm 5 bài thơ với một tựa đề theo phương pháp như sau:

Một câu có vần dùng làm chủ đề lần lượt được đặt làm câu phá đề của bài thứ nhất rồi
chuyển xuống lần lượt làm câu thừa đề của bài thứ hai, các câu có vần trong cặp thực luận và kết
của các bài tiếp theo, các vần khác cứ theo trật tự mà đẩy lên nhường chỗ cho câu chủ đề.

Có thể coi các bài là một chùm xướng họa mà câu chủ đề đã được di chuyển tuần tự qua các vị
trí như trục bánh xe tịnh tiến ( có ý kiến cho rằng "lộc lư" là cách đọc khác của từ "lộc lô" tức là
con lăn).

Tóm lại:

Gồm 5 bài bát cú được liên kết nhau bằng một câu đầu của bài đầu, nó lần lượt được
chuyển sang các bài sau theo thứ tự ở vị trí 2, 4, 6 và 8.

Trong cách viết hiện nay, rất ít người xử dụng nguyên bộ vần cho tất cả các bài thơ (cách 1) mà
dùng riêng bộ vần cho từng mỗi bài thơ nhưng không được trùng nhau trừ câu chủ đề (cách 2).
Cách 1: Xử dụng nguyên bộ vần cho tất cả các bài
Cách 2: Xử dụng riêng bộ vần cho từng bài (trừ câu chủ đề).

- Cách 1: Xử dụng nguyên bộ vần cho tất cả các bài. Thí dụ dưới đây có bộ vần "lay, bày,
thay, ngày, say" chuyển xa luân trong 5 bài thơ.


NGÁT NHỤY XUÂN ĐỜI



Nhụy dỡ hương nồng ửng sắc lay
Rồi trưng áo diện, ngõ xuân bày
Trong miền sự tích bao hồi chuyển
Giữa nẻo nhân tình mấy cuộc thay
Đủ những niềm tin bền thấm hạnh
Đầy muôn ý tưởng vững khơi ngày
Vươn tầm lỗi lạc căng bầu huyết
Rượu cũng châm rồi để chuốc say.




Vầng dương đã khởi nét tươi bày
Nhụy dỡ hương nồng ửng sắc lay
Én xoải tầng mây dòng thực lãng
Sương viền rặng núi ảnh trần thay
Hòa con nước dẫn bồi vun mạch
Vỗ nhịp đời reo tiếp chuyển ngày
Lại sẵn huyền cơ... nguồn ấp ủ
Đây vườn bướm lượn, dõi mà say.




Đẫm quyện vào nhau phút tỏ bày
Tơ choàng ánh lụa ngỡ vừa thay
Đàn lên quãng nhộn trào cung ví
Nhụy dỡ hương nồng ửng sắc lay
Tuổi cũ về giăng triền suối ngọc
Đường xưa giữ lại dấu chân ngày
Đan vùng niệm ức, rồi khai mở
Thẫm ngả khung trời nhấp vị say.




Lời thương ướp mật hãy phô bày
Lẽ tạnh cơn mù, nắng hửng thay
Dệt khúc thể trao đừng nhỡ buổi
Dành tia mộng gửi ắt vương ngày
Ong khều noãn dịu quơ vòi hứng
Nhụy dỡ hương nồng ửng sắc lay
Biếc nụ tầm xuân dường trẻ mãi
Thêu tràn giọt mắt, ngần hồn say.


Thỏa Tết, ngàn hoa diễm tuyệt bày
Tô vườn nguyện ước mảng màu thay
Mừng nây cội nghĩa rồi thơm quả
Chúc đẹp phần duyên sẽ tỏ ngày
Đỏ pháo hiên bừng xem vẫn thẹn
Hây đào má ruộm ngẫm còn say
Trần gian tặng cả mùa phơ phới
Nhụy dỡ hương nồng ửng sắc lay.


(Nguyễn Quốc Bình)


- Cách 2: Xử dụng riêng bộ vần cho từng bài (trừ câu chủ đề). Theo thí dụ dưới đây, 5 bài
thơ có cùng vận "a" nhưng không có cùng bộ vận.



THẮM NẺO XUÂN QUA


Lắng giọt xuân tình mỗi nẻo qua
Bình minh lợp ánh đẩy dương tà
Theo làn gió chuyển vơi ngày cũ
Lẫn vệt mây cài thoảng bóng xa
Kẻ dõi mùa vui hồn ngát đượm
Người in nỗi vọng mắt rưng nhòa
Sum vầy, lệ trút phen mừng tủi
Thấm tuổi so cùng những điệu ca.



Rồi nghe đợt pháo tưởng như là
Lắng giọt xuân tình mỗi nẻo qua
Phía ngõ bàn chân dường lạ nhỉ
Đằng hiên nét thở rõ quen mà
Xuôi dòng lãng bạt, chưa kề bến
Trở quãng phiêu bồng lại kéo ta
Đẫm cả chùm thơ nồng sắc gợi
Kìa em, mấy thuở vẫn không già.




Lạnh lẽo ai còn buốt mảnh da
Về đây dệt nắng, hửng quê nhà
Dâng hồn nhạc ý muôn lời phổ
Lắng giọt xuân tình mỗi nẻo qua
Để dõi tường vy bừng má ngọc
Rồi vin thạch thảo sánh mi ngà
Tơ hồng đã rải trên nhành biếc
Ủ chắt men lòng, rượu nghĩa pha.


Vờn giăng nhịp én gửi thay quà
Nhánh lộc reo hùa, cũng mở ra
Đủ nhớ lùa canh hằng giữ buộc
Vừa thương hé buổi sẽ tuôn òa
Khơi nguồn diệu ái bao triền tỏ
Lắng giọt xuân tình mỗi nẻo qua
Gỡ mảnh thời gian đằm vị ướp
Thầm mơ vạc áo điểm bông cà.


Nhẹ bẫng tia chiều dạo phố hoa
Trần gian miết mải dẫu theo đà
Ngang thềm trổ cúc lay hình mẹ
Kế sảnh bung đào ngỡ giọng cha
Lửa giữ đều tay... rền cặp bánh
Nhài nêm phải cánh... đậm ly trà
Giao thừa rộn rã hương lừng trải
Lắng giọt xuân tình mỗi nẻo qua.


(Nguyễn Quốc Bình)


Thủ Vĩ Liên Hoàn (Thủ Vĩ Liên Hườn)



Thủ Vĩ Liên Hoàn = Làm nhiều bài thơ (từ 2 bài thơ trở lên), tứ tuyệt hay bát cú, lấy câu kết của
bài 1 đem làm câu phá của bài 2; câu kết của bài 2 đem làm câu phá của bài 3... cho đến khi dứt
bài chót.

(Thủ = đầu. Vĩ = vỹ = đuôi. Liên = liền với nhau. Hoàn = hườn = trở về, trả trở lại).


Ông Nguyễn Công Trứ là người đầu tiên làm 4 bài Thủ vĩ Liên Hoàn (Hườn) với 4 tựa đề

khác nhau nhưng gồm lại chỉ có một đề tài là cuộc đời và nhân sinh quan của ông:



(Quân tử cố cùng)

Chưa chán ru mà quấy mãi đây
Nợ nần dan díu mấy năm nay
Mang danh tài sắc cho nên nợ
Quen thói phong lưu hóa phải vay
Quân tử lúc cùng thêm thẹn mặt
Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay
Còn trời còn đất còn non nước
Có lẽ ta đâu mãi thế nầy.

(Hội gió mây)
Có lẽ ta đâu mãi thế nầy
Non sông lẩn thẩn mấy thu chầy
Đã từng tắm gội ơn mưa móc
Cũng phải xênh xang hội gió mây
Hãy quyết phen nầy xem thử đã
Song còn tuổi trẻ chịu chi ngay
Xưa nay xuất xử thường hai lối
Mãi thế rồi ta sẽ tính đây




(Thú điền viên)
Mãi thế rồi ta sẽ tính đây
Điền viên thú nọ vẫn xưa nay
Giang hồ bạn lữ câu tan hợp
Tùng cúc anh em cuộc tỉnh say
Tòa đá Khương Công đôi khóm trúc
Áo xuân Nghiêm Tử một vai gầy
Thái bình vũ trụ càng thong thả
Chẳng lợi danh gì lại hóa hay.




(Thú ẩn dật)
Chẳng lợi danh gì lại hóa hay
Chẳng ai phiền lụy chẳng ai rầy
Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp
Trong thú yên hà mặt tỉnh say
Liếc mắt coi chơi người lớn bé
Vểnh râu bàn những chuyện xưa nay
Của trời trăng gió kho vô tận
Cầm hạc tiêu dao đất nước nầy.
(Nguyễn Công Trứ)




Thơ chữ Quốc ngữ thời tiền chiến làm thơ ngắn hơn, thường có 2 bài:
KHÓC VỆ LAN

Yêu nhau năm tháng cách xa nhau
Ngấn lệ chưa khô đã bạc đầu
Một sớm em đi, tình lỡ dỡ
Trọn đời anh chịu kiếp thương đau
Nắng mưa đất khách hoa tàn tạ
Mưa gió mồ em cỏ dãi dầu
Ngọc nát vàng phai đau đớn nhẽ
Tìm em còn có thấy em đâu!

Tìm em còn có thấy em đâu!
Biết nói cùng ai chuyện bể dâu
Mở đọc thư xưa, thư ố lệ
Giở xem ảnh cũ, ảnh phai mầu
Gương còn luyến bóng, người đâu mất
Đêm đã tàn canh, mộng cũng sầu
Lấy bút đề thơ, thơ ngấn lệ
Hàng thơ hoen ố mấy hàng châu.
(Tam Lang)




Đôi khi có biến tấu là câu phá của bài sau hơi khác câu kết của bài trước một, hai chữ,




LÀM THƠ CON CÓC (Xướng)


Độc giả nhiều người khó tánh ghê!
Đến thơ Con Cóc cũng còn chê:
Thơ đâu dở ẹt, “mail” mời đọc!
Thơ chả hay gì, bảo phải mê!
Chẳng có hồn thơ, đòi viết lách!
Chỉ tùy thi hứng, ngỡ nhà nghề!
- Làm thơ không dễ, bàn thì dễ
Thi sĩ làm thinh, đỡ mọi bề?



Thi sĩ làm thinh, sướng mọi bề?
Ta thơ Con Cóc mặc khen chê
Khen hay? Càng khoái, hơn mong muốn
Chê dỡ? Hơi buồn, chả thấy quê
Thi hứng đổi trao, cùng xướng họa
Hồn thơ xuất nhập, vẫn đam mê
Cáp mô hàm dưỡng đầy công lực
Tĩnh tọa đề thi tỏ thiện nghề.

(Phan Thượng Hải)


LÀM THƠ VỚI BẠN (Họa)

Tánh người suy gẩm, gẩm mà ghê
Cao, thấp, ốm, ù, thảy thảy chê
Thơ dỡ, thơ hay nào muốn đọc
Yếm đào, yếm lụa lại say mê
Người đời, vẫn biết là như thế
Bút nghiệp, mình đây chẳng phải nghề
Thư thả thong dong ta cứ viết
Viết rồi mình đọc sướng trăm bề.



Viết cho bạn đọc thú trăm bề
Ai mắng, ai rầy, ai có chê
Ta sướng, ta vui, lòng thoải mái
Người cười, người nhạo, có gì quê
Vui thơ, vui ý, vui tình bạn
Thoát tục, thoát tình, thoát bến mê
Đời dẫu trôi qua như giấc mộng
Đề thơ thanh thản tựa như nghề.


(Bùi Đắc Hùm)


Từ Thủ Vĩ Liên Hườn có những biến thể khác:

Thủ Vĩ Liên Hườn Tương Lân = Thủ Vĩ Tương Lân

Làm theo biến thể Thủ Vĩ Liên Hườn, cho tới khi dứt bài chót thì lấy câu phá bài 1 đem
làm câu kết của bài chót. (Tương = cùng nhau. Lân = tiếp hợp nhau = Liên).


Thủ Vĩ Liên Hườn Thuận Nghịch Vận = Liên Hườn Thuận Nghịch Vận

Làm theo biến thể Thủ Vĩ Liên Hườn nhưng chỉ gồm có 2 bài thơ: bài sau sắp xếp ngược
vần với bài trước.


Thủ Vĩ Liên Hườn Quán Châu = Thủ Vĩ Quán Châu (theo ông Diên Hương)

Làm theo biến thể Thủ Vĩ Liên Hườn mà trong có hai, ba hay năm chữ vần áp thuận áp
nghịch nhồi đi lặp lại và cũng bao nhiêu ý tứ đảo lộn liên tiếp nhau.


38a. Thủ Vĩ Liên Hườn Tương Lân



Thủ Vĩ Liên Hườn Tương Lân = Thủ Vĩ Tương Lân

Làm theo biến thể Thủ Vĩ Liên Hườn, cho tới khi dứt bài chót thì lấy câu phá bài 1 đem
làm câu kết của bài chót.

Đây là bài thơ đầu tiên theo biến thể Thủ Vĩ Tương Lân của ông Huỳnh Thúc Kháng. Ông làm
bài nầy để phản đối câu "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn" của ông Phạm Quỳnh.



VỊNH KIỀU


Á cũ qua rồi mới chửa Âu
Học Kiều xúm xít bọn mày râu
Đã mang thân thế nương nhà thổ
Còn trách cha ông vụng kiếp tu !
Một khúc đoạn trường khêu lửa dục
Mấy dây bạc mạng chác hơi sầu
Biết chăng hởi cụ Tiên Điền nhỉ
Muôn ác tà dâm ấy sự đầu !

Muôn ác tà dâm ấy sự đầu
Tình đâu đâu mà hiếu đâu đâu
Theo trai gác xó lời cha mẹ
Làm đĩ đành thân tiếng ngựa trâu
Nghiêng nước trận cười gương mấy kiếp
Đắm người bể sắc tội nghìn thu
Tiên Điền cụ nghĩ mua vui vậy
Biết nỗi người sau dại thế ru...



Biết nỗi người sau dại thế ru
Phong trần đưa giọng chuyện phong lưu
Vẩn vơ người ấy phường trăng gió
Đau đớn lòng ai cuộc bể dâu
Nòi giống khôn thiêng thân một nước
Anh hùng nhiều ít tiếng năm châu
Tiên Điền cụ có hay chưa nhì
Sách dạy ngày nay đĩ đứng đầu.



Sách dạy ngày nay đĩ đứng đầu
Xúm nhau sùng bái gái bên Tàu
Cột đồng Mã Viện xô chưa đổ
Sóng ác Kiều nương đắm lại sâu
Ố điếm ngàn năm ô lịch sử
Báo chương phân nửa chuyện thanh lâu
Ai ơi, gọi cụ Tiên Điền dậy
Đừng để non sông chịu tiếng vu.



Đừng để non sông chịu tiếng vu
Phật nhà không lạy, lạy người Tàu
Trưng Vương đền cũ mùi hương lạnh
Triệu Ẩu bia còn nét chữ lu
Thiện chẳng thấy bày, bày những ác
Ơn kia không biết, biết chi cừu
Tiên Điền cụ biết thời nay nhỉ
Á cũ qua rồi mới chửa Âu !


(Huỳnh Thúc Kháng)


Hiện đại có biến tấu của Thủ Vĩ Liên Hườn Tương Lân:

Biến tấu của Thủ Vĩ Liên Hườn: câu phá của bài sau hơi khác câu kết của bài trước một,
hai chữ, nhưng những chữ cuối luôn giống

Biến tấu của Thủ Vĩ Tương Lân: câu phá bài 1 hơi khác câu kết của bài chót vài chữ
nhưng những chữ cuối luôn giống nhau.

LỄ THANKSGIVING

Ra đi bỏ lại những phồn vinh
Tìm đất tự do sống thái bình
Nông nghiệp mở mang khi kiếm sống
Kinh doanh phát triển lúc mưu sinh
Quốc gia giàu mạnh nhờ dân chủ
Quốc tế hùng cường trải chiến chinh
Hiệp chủng kết tình nên lịch sử
Cùng vui mừng lễ Thanksgiving.



Mỗi năm đến lễ Thanksgiving
Cảm tạ Ơn Trên giúp đỡ mình (*)
Tỵ nạn miền Nam qua khốn khó
Công dân nước Mỹ sống thanh bình
Vẹn tình thông cảm toàn thân thuộc
Trọn đạo kiên trì nhất nghệ tinh
Hy vọng từ tâm nhìn thế sự
Thủ thường an phận đủ phồ

(Phan Thượng Hải)


38b. Thủ Vĩ Liên Hườn Thuận Nghịch Vận



Thủ Vĩ Liên Hườn Thuận Nghịch Vận = Liên Hườn Thuận Nghịch Vận

Làm theo biến thể Thủ Vĩ Liên Hườn nhưng chỉ gồm có 2 bài thơ: bài sau sắp xếp ngược
vần với bài trước.




HỘI NGỘ VANCOUVER 2015


Đúng hẹn về đây Vancouver
Đồng môn tái ngộ thỏa mong chờ
Giữ gìn truyền thống tròn Y đạo
Thể hiện tình thân vượt bến bờ
Bạn cũ vui vầy khi mạnh giỏi
Tuổi già sống lại thuở ngây thơ
Du hành dạ tiệc cùng hoan hỉ
Bốn chục năm qua tựa giấc mơ.




Bốn chục năm qua tựa giấc mơ
Đồng trường chung lối những ngày thơ
Chiến tranh khốc liệt tàn non nước
Tỵ nạn phiêu lưu lánh cõi bờ
Nghề nghiệp tha hương qua khổ cực
Tâm tình ái quốc vẫn mong chờ
Cùng bao bạn quý, dù xa cách
Nhân nghĩa hài đồng những vẩn vơ.


(Phan Thượng Hải)
7/11/15


(*) Chú thích:

Bài trên có vận theo thứ tự: ver (vơ), chờ, bờ, thơ, mơ.

Bài dưới có vận theo thứ tự ngược lại (nghịch): mơ, thơ, bờ, chờ, vơ.

Từ Thủ Vĩ Liên Hườn có Thủ Vĩ Tương Lân và Liên Hườn Thuận Nghịch Vận như bài thơ
dưới đây:


VẾT THƯƠNG CỦA CHA


Rồi cha giã biệt mái tranh nghèo
Lý tưởng soi đàng dẫn bước theo
Hỏa tuyến vùi canh màn pháo rộ
Biên khu ngẩng mặt ánh châu vèo
Quân hành những lúc mồ hôi tủa
Chiến đấu bao lần máu thịt gieo
Giữ trọn niềm tin ngày đại thắng
Và trong một trận vết thương đèo.



Và trong một trận vết thương đèo
Khúc nhạc sa trường bỏ nốt gieo
Cuộc sống gia đình tay trụ vững
Guồng quay xã hội chí thông vèo
Sinh thời quyết ý không dùng lại
Tử hạn xem chừng mãi bám theo
Phút cuối đành quên lời nhắn gửi
Rồi cha giã biệt mái tranh nghèo...

(Nguyễn Quốc Bình)
(*) Chú thích:

Bài thơ trên có vần theo thứ tự: nghèo, theo, vèo, gieo, đèo.

Bài thơ dưới có vần theo thứ tự ngược lại: đèo, gieo, vèo, theo, nghèo.

38c. Thủ Vĩ Quán Châu


Diên Hương còn kể biến thể Thủ vĩ quán châu.
Thủ Vĩ Liên Hườn Quán Châu = Thủ Vĩ Quán Châu

Làm theo biến thể Thủ Vĩ Liên Hườn mà trong có hai, ba hay năm chữ vần áp thuận áp
nghịch nhồi đi lặp lại và cũng bao nhiêu ý tứ đảo lộn liên tiếp nhau.

CHỊ EM BẠN GÁI ĐỐI VỚI NGÀY XUÂN


Xuân một trời chung cõi Đại La
Biết tình xuân, dễ mấy ai là ?
Thoi oanh tháng dệt giang san gấm
Tơ nhện ngày thêu võ trụ hoa
Chín chục bóng thiều thời tiết ấy
Ba ngàn cái én chị em ta
Ngày xanh biết mấy tình vui vẻ
Trời để dành cho mặt phấn mà.


Trời để dành cho mặt phấn mà
Ngày xanh ta phải ngẫm thân ta
Thêu hoa võ trụ nghề Thanh Nữ
Dệt gấm giang san phận Tố Nga
Chớ phụ bóng thiều ngày chín chục
Nữa hoài cái én lũ ngàn ba
Văn minh kết quả xuân chung hưởng
Xuân một trời chung cõi Đại La.
(Vô Danh thị)


Biến thể này có thể thức không rõ ràng nên không ai làm.

Liên Hườn - Ô thước kiều


Liên Hườn = Ô Thước Kiều Làm nhiều bài thơ (từ 2 trở lên), tứ tuyệt hay bát cú, lấy hoặc một hai hay là ba bốn...
tiếng cuối bài thứ nhất, đặt ở đầu câu thứ nhứt bài thứ hai; lấy một hai hay là ba bốn tiếng cuối
bài thứ hai đặt ở đầu câu thứ nhứt bài thứ ba và cứ như thế cho đến bài chót. (Như bài Cửu Liên
Hườn của Hồ Biểu Chánh hay bài của Phan Văn Trị).


Khi đến bài chót, tác giả có thể chọn lấy câu mở đầu bài thứ nhứt mà làm câu kết của bài chót;
hay là lấy ít nữa là hai tiếng đầu ở câu thứ nhứt bài đầu mà đặt làm hai tiếng cuối câu kết bài
chót. (Như bài thơ Khuê Phụ Thán của Thượng Tân Thị và vua Thành Thái). Kiểu này có thể
gọi là Liên Hườn Thuận Nghịch Vận (Liên Hoàn Thuận Nghịch Vận) nhưng ít người gọi như
vậy vì sợ lộn với Thủ Vĩ Liên Hườn Thuận Nghịch Vận do đó vẫn gọi là Liên Hườn hay Ô
Thước Kiều mà thôi.



Hiện đại, biến thể Liên hườn được gọi là Ô Thước Kiều, nhưng không có giải thích rõ ràng tại
sao dùng tên là "Ô Thước Kiều" (Cầu Ô Thước).

Ông Phan Văn Trị là người đầu tiên làm biến thể nầy với 3 bài thơ, dĩ nhiên là để chống ông
Tôn Thọ Tường.


CHỐNG TÔN THỌ TƯỜNG

Long lay lòng sắt đã mang nhơ
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ
Người trí mảng lo danh chẳng chói
Đứa ngu luống sợ tuổi không chờ
Bài hòa đã sẵn in tay thợ
Cuộc đánh hơn thua giống nước cờ
Chưa trả thù nhà đền nợ nước
Dám đâu mắt lấp với tai ngơ



Tai ngơ sao đặng lúc tan tành
Luống biết trách người chẳng trách mình
Đến thế còn khoe đàng đạo nghĩa
Như vầy cũng gọi kẻ trâm anh
Biển khơi vụng tính dung thuyền nhỏ
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành
Thân có, ắt danh tua phải có
Khuyên người ái trọng cái thân danh.



Thân danh chẳng kể thật thằng hoang
Đốt sáp nên tro lụy chẳng màng
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa
Một nhà danh giá xóa tan hoang
Con buôn khắp khởi chưa từng ngọc
Người khó xăng văng mới gặp vàng
Thương kẻ đòng văn nên phải nhắc
Dễ đâu ta dám tiếng khoe khoang.


(Phan Văn Trị)


Theo Văn học sử, ông Hồ Biểu Chánh viết văn khoảng 1920-1945. Nhưng trước đó, ông có bài
thơ Vô Đề theo thể Cửu Liên Hườn (1912), gồm có 9 bài thơ.


"CỬU LIÊN HƯỜN"


Cà Mau dung bước đã ba trăng
Phong cảnh trong ra ít chỗ bằng
Thong thả mục đồng coi lảnh lót
Linh đinh ngư phủ lưới bao giăng
Tiều vui dơ búa nơi lâm tẩu (*)
Canh một phơi chui chốn nội sanh
Thằng chệt chen vai người bổn thổ (*)
Coi quyền dành giựt chạy lăng xăng.



Lăng xăng coi thử số làm sao
Đoái lại vườn xuân rất ngạt ngào
Ngàn đặm trông vơi trồng chẳng ráo
Năm canh thổn thức ruột như bào
Nặng quằn chưa trả ơn người trước
Xo xắn khó tròn đạo kẻ sau
Nam tử lỡ mang lời với thế
Công danh nhiều ít phải xôn xao.



Xôn xao rồi nghĩ lại buồn thêm
Một gốc trời Nam chín khúc mềm
Em dại ham chơi lo nỗi trẻ
Con thơ thất dưỡng tủi thay niềm
Lẻ bầy tìm tỏi xăng văng vượn
Xa ổ kêu sầu bát ngát chim
Nhắm mắt đưa chơn coi máy tạo
Bao chừ mai trước đứng chung thềm.



Chung thềm khi ấy mới vui cho
Nhớ bạn tri âm tiếng hẹn hò
Khoẳng khoát vườn đào cây rải rác (*)
Biệt mù dặm liễu khúc quanh co
Ngoài tường thoảng thoảng nhành hoa động
Đầu chái lui thui bóng nguyệt lò
Dám trách cao xanh gây nỗi thảm
Để người trông đợi kẻ buồn xo.



Buồn xo nông nỗi tại vì ai
Đeo đuổi lòng danh bước lạc loài
Hạc nội thảnh thơi ganh chí trẻ
Gà lồng túng tính tủi phần trai
Mối sầu lần gỡ ngày thêm lụn
Tơ nhợ còn vương giấc khó dài
Gặp cuộc phải xây theo với cuộc
Tứ dân nào phải kế sanh nhai.



Sanh nhai chi thiếu kế trên đời
Nông cổ coi bề rất thảnh thơi
Làm chủ muốn ngơi ngơi tỉnh tỉnh
Khỏi tôi buồn nhận nhận chơi chơi
Côn kình biển cạn khôn khoe sức
Kỳ ký đường co khó trổ tài
Danh lợi bôn chôn thôi trối kẻ
Phân tai ta giữ buổi hôm mai.



Hôm mai ngồi nghĩ đến nhân tình
Ít dữ trên đời rõ nhục vinh
Đường thẳng chưa ai thêm thử bước
Việc hư hiếm kẻ áp chen dành
Ruồi bu đuôi ngựa rồi nghinh mặt
Cáo đội lớp hùm cũng thiếu nanh
Ba vạn sáu ngàn ngày có mấy
Làm chi cực trí lại nhơ danh.



Nhơ danh mặc kẻ giữ lòng ta
Quan sự rảnh rồi thích thú nhà
Buổi tối thi ngâm câu Đỗ Lý
Vui trưa kìm khải khúc Kỳ Nha
Thà cam người trí lều (liều) xiêu xó (*)
Dễ chịu thằng ngu dạn nhổn nha
Dẫu tiếng ngựa trâu chi cũng chịu
Giữa trần ai dễ biết ai mà.



Biết ai mà tỏ chút tình riêng
Bóng thỏ canh chầy dọi trước hiên
Danh lợi mắt lơ trông một cặp
Non sông gánh nặng đạo ba giềng
Nghiêng tai chi sá lời phi thị
Lần bước noi theo dấu thánh hiền
Cái chí tang bồng đâu cũng vậy
Hễ là vô sự ấy là tiên.

(Hồ Văn Trung tự Biểu Chánh) Avril 1912

Chú thích: Lâm = rừng. Tẩu = động. Bổn (tiếng Nam Kỳ)= bản. Khoẳng (tiếng Nam Kỳ) =
khoảng. Lều (tiếng Nam Kỳ) = liều


Tương truyền bài dưới đây của nhà cách mạng Nguyễn Quang Diêu làm ở Quảng Châu sau khi
từ Guiana trở về (1920) và ông Nguyễn Hải Thần có họa lại nhưng bài họa bị thất lạc không tìm
được. Đây là bài Thập thủ Liên hoàn đầu tiên, tỏ tình ái quốc.


SẦU NON NƯỚC


Hỏi tôi buồn những sự gì đây
Mượn rượu làm khuây cũng chẳng khuây?
Mắt mãi chứa chan cơ hội trước
Lòng hằng chua xót nước non nầy
Hồn khôn vấn vít thân còn dở
Phách dại mơ màng kiếp sống say (1)
Bĩ thái then trời đâu dễ chắc (2)
Lẽ nào có rủi lại không may.


Không may sá quản chút thân này
Thượng Đế ngồi cao lẽ cũng hay!
Đường lắm chông gai chơn ngại bước
Trời chưa mưa gió cánh không bay
Tấm lòng hồ thỉ còn mong mãi (3)
Món nợ san hà muốn trả ngay
Vẫn tính vẫy vùng cho phỉ chí
Ngặt vì còn thiếu cả chân tay.




Chân tay thiếu cả liệu sao mà
Biết ngỏ cùng ai tâm sự ta?
Tủi phận vẩn vơ hùm lạc núi
Xót thân dật bạ chó không nhà (4)
Bệnh nghèo vắng thấy tay trừ quỉ
Cơn ngặt ầm nghe tiếng nhát ma!
Mùi có nếm rồi, rồi mới biết
Càng cay đắng lắm chí càng già.


Chí càng già dặn lúc truân chuyên
Có đẩy xô gì chẳng đổ nghiêng
Dầu tớ chạy nam dầu chạy bắc
Mặc ai rằng nghịch mặc rằng điên!
Rừng nhiều beo hạm tay không súng
Đường lắm tàu xe túi chẳng tiền
Mưa nắng chi chi đâu dám nại
Ấy là trách nhiệm giống Rồng Tiên.



Giống Rồng Tiên trước kém gì ai
Mày mặt giờ ra thẹn với đời
Toan cắp Thái Sơn sang bể cả
Rắp đem tinh vệ lấp miền khơi (5)
Vai hằng gánh nặng thù non nước
Lòng mãi vương mang nghĩa đất trời
Thành bại lẽ thường đâu sá quản
Gọi là trả chút nợ làm trai.




Làm trai nay gặp hội tân trào
Ngồi đấy khoanh tay nỡ bụng nào!
Ách thảm nặng quằn vai nghĩa liệt
Lửa thù đốt cháy ruột anh hào
Trông về non nước lòng thêm bận
Đoái lại mày râu tuổi đã cao
Thời đại thế mà dân tộc thế
Không cùng khóc ngất lại cười nhào. (6)

Cười nhào những đứa giả văn minh
Mượn lối thương dân tính lợi mình
Gạt chúng khua rầm mồm nhiệt huyết
Dối đời lơ láo mắt vô tình
Bộ tuồng công đức trông ra dáng
Cái lốt nô nhan lộ cả hình (7)
Huyết tánh con người ai lại chẳng
Dại gì không tưởng đến sanh linh.


Sanh linh rủi gặp lúc phong trần (8)
Nước chẳng ra gì lựa đến thân!
Ngoài cuộc điên ba trông vắng bặt (9)
Trong vòng nô lệ đứng chần ngần
Sóng tràn chán mắt làng phi cựu (10)
Sấm nổ ầm tai tiếng cách tân (11)
Ai cũng anh em Hồng Lạc cả
Ai ơi phải biết phận làm dân!




Phận làm dân tộc nước Nam ta
Hơn bốn nghìn năm nối nghiệp nhà
Mở rộng gian san cho cháu chắt
Hao bao huyết hãn của ông bà (12)
Máu thù nô lệ sôi lòng trẻ
Cuộc biến tang thương chán mắt già (13)
Tình cảnh thế nầy không thể chịu
Bút linh đành mượn đánh đàn ma.


Đàn ma hút cả máu dân gầy
Bảy tám mươi năm trải đến rày
Mưa gió Mỹ Âu mòi đã trổ
Anh em Hồng Lạc giấc còn say!
Biển trần chưa định thân chìm nổi (14)
Cuộc biến còn nhiều lúc rủi may
Nỗi nước nỗi nhà còn lắm nỗi
Hỏi tôi buồn những sự gì đây?

(Nguyễn Quang Diêu) 1920
Chú thích:

Sống say: do câu "Túy sinh mộng tử" (Sống giữa cơn say, chết trong chiêm bao, trong

mộng mị)


Bĩ thái = suy và thịnh. Then trời: ý nói "cơ trời", có khi "máy trời"


Hồ thỉ: từ câu "Tang bồng hồ thỉ", sự tích như "Tang bồng".


Dật bạ = trôi nổi lông bông tạm bợ không chắc vào đâu. Tiếng thông dụng ở Nam kỳ
vào thời đó. Đó là chữ đôi: Dật = thất lạc; Bạ đi đôi với Dật, không có nghĩa gì hết.


Tân trào = Trào lưu mới

Tinh vệ: tên một loại chim nhỏ ở ngoài biển. Tục truyền con gái vua Viêm Đế vì chết
chìm nên căm tức hóa thành chim ngậm đá để lấp biển. Nghĩa bóng: người có một mối thù thâm
sâu, quyết trả cho được.


Cười nhào = cười dữ lắm đến lộn nhào người ra


Nô nhan = mặt (người) đày tớ. Do câu "Nô nhan tỳ tất" (Mặt đày tớ, gối con hầu).
Ngụ ý khinh khi.


Sanh linh = con người


Điên ba = sóng dữ. Có bản chép "phong ba" (sóng gió)


Cách cựu = trái với "cựu"; không thủ cựu (=không giữ cái cũ)


Cách tân = làm ra cho mới


Huyết hãn = máu và mồ hôi


Tang thương: do câu "Thương hải biến vi tang điền" (Bể xanh hóa thành ruộng dâu);

ý nói cuộc thay đổi lớn. Từ ngữ "Bể dâu" cũng cùng một nghĩa.


Biển trần = cõi trần thế rộng như biển cả




Biến thể Liên Hườn được biết đến nhờ bài thơ Thập thủ liên hườn tựa đề Khuê Phụ Thán.
Tương truyền bài thơ nầy là do một bà Hoàng phi của vua Thành Thái làm ra vì xa cách nhà vua
phải bị đi đày ở Phi Châu. Sau này, độc giả được biết là thi sĩ Thượng Tân Thị làm giùm cho bà
khi ông còn ở Huế. Tương truyền từ Phi Châu, vua Thành Thái cũng có 10 bài Liên hườn để họa
lại.

Cả 2 bài xướng họa đều có Thủ Vĩ Tương Lân: câu đầu của bài thơ là câu cuối của bài thơ.
KHUÊ PHỤ THÁN (Xướng)
 KHUÊ PHỤ THÁN (Họa)
Chồng hỡi chồng ! con hỡi con ! Vợ hỡi vợ ! con hỡi con !
Cùng nhau chia cách mấy thu tròn Cách nhau trăng khuyết lại trăng tròn
Ven trời góc bể buồn chim cá Ruột tằm đòi đoạn như tơ bủa
Dạn gió dày sương tủi nước non Nước mắt từng phen luống nỉ non
Mộng điệp khéo vì ai lẽo đẽo Xót nỗi tha hương trời thăm thẳm
Hồn quyên luống để thiếp thon von Chạnh niềm cố quốc nước thon von
Ngày qua tháng lại trông đăm đẳm Trách ai chích mát lòng chim cá
Muôn vạn xa xuôi mắt đã mòn Vàng đá xuôi nên phải mỏi mòn




Đã mòn con mắt ở Phi Châu Mỏi mòn con mắt góc trời Âu
Có thấy chồng đâu con ở đâu Lủi thủi quê người trôi nổi đâu
Dẫu đặng non xinh cùng bể tốt Góc bể mai chiều cam dạ giận
Khó khăn gió thảm với mưa sầu Chân trời khuya sớm héo gan sầu
Trách ai dắt nẻo khôn lừa lọc Ba sinh lở dở đường duyên nợ
Khiến thiếp ra thân chịu dãi dầu Muôn dặm phôi pha đám lửa dầu
Bớ bớ xanh kia sao chẳng đoái Ngắm lại cuộc đời thêm chán ngán
Xui lòng oằn oại trót canh thâu. Một mình trằn trọc suốt canh thâu.

Canh thâu chưa nghỉ hãy còn ngồi Canh thâu trằn trọc đứng lại ngồi
Gan ruột như dầu sục sục sôi Đáo để nhân tình huyết phải sôi
Nghĩa gá ấp yêu đành lỡ dở Chí cả còn chưa xong chuyện ấy
Công cho bú mớm chắc thôi rồi Bợm già đâu đã mắc tay rồi…
Quyết gìn giữ dạ tròn sau trước Má hồng luống để ai cam phận
Biết cậy nhờ ai tỏ khúc nôi ! Con trẻ đành lìa nỡ khúc nôi
Dâu bể xanh xanh trời một góc Trẻ tạo cột người ghê gớm thiệt
Hỡi chồng ơi ! với hỡi con ơi ! Hỡi vợ ơi ! với hỡi con ơi !




Con ôi ! ruột mẹ ngớu như tương Con ôi ! không lấy nổi dòng Tương
Bảy nổi ba chìm xiết thảm thương Nghĩ đến con mà thiết thảm thương
Khô héo lá gan cây đảnh Ngự Bởi chút xót xa tình cốt nhục
Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương Mà ra đau đớn cảnh tha hương
Quê người đành gởi thân trăm tuổi Tuôn lòng cha đã đành không nẻo
Đất tổ mong vì nợ bốn phương Tháo cũi con rày cũng hết phương
Mẹ cũng trông mau rồi một kiếp Thôi thế thì thôi đành mặc thế
Để cho vẹn vẽ mối can thường. Sao cho khỏi lỗi đạo cang thường.




Cang thường gánh nặng cả hai vai Cang thường ai kẻ nặng hai vai
Biết tỏ cùng ai, ai hỡi ai! Quanh quất bây giờ biết hỏi ai ?
Để bụng chỉn e tằm đứt ruột Cảnh ấy tình nầy thêm xót dạ
Hở môi thì sợ vách nghiêng tai Trời kia đất nọ nỡ bưng tai
Trăng khuya nương bóng chinh chinh một Đã không non nước gom về một
Kiếng bể soi hình tẻ tẻ hai Lại khiến gương đồng phải bể hai
Nhắm thử từ đây qua đến đó Dâu bể đa đoan thôi hết nói
Đường đi non nước độ bao dài ? Ôm lòng thương xót thở than dài




Bao dài non nước chẳng hay cùng Thở dài than vắng biết ai cùng ?
Xin gởi hồn ta đến ở chung Rượu giải sầu nay cạn mấy chung
Hôm sớm cho tròn luôn một tiết Cám cảnh thê nhi trời chiếc bách
Trước sau khỏi thẹn với ba tùng Biết ai vây cánh giũ mây tùng ?
Quê nhà đã có người săn sóc Yêu tình mỏi mắt trông thăm thẳm
Đất khách nương nhau khỏi lạ lùng Cảnh vật cùng ta ngó lạnh lùng
Mảng tính chưa xong vừa chớp mắt Non nước chia hai đau đớn nhỉ !
Trống lầu đâu đã đổ lung tung. Thành sầu khôn nỗi mở cho tung.




Đã đổ lung tung tiếng trống thànhAi mở cho tung mấy cửa thành
Giựt mình tỉnh dậy mới tàn canhTư bề lạ mắt lính ai canh ?
Sương sa lác đác dằn tàu lá Ngùi trông bể Á tàu phun khói
Gió thổi lai rai lạc bức mành Chạnh nhớ trời Phi liễu rũ mành
Cảnh ấy tình nầy thôi hết muốnTrách bớ cao xanh sao chẳng đoái
Trời kia đất nọ nỡ bao đành Lạc loài đen bạc nỡ cho đành
Thương nhau chẳng đặng cùng nhau trọn Sống thừa thôi có mong gì nữa
Xin hẹn chung cùng kiếp tái sanh. Đành để quê người gửi tử sanh.

Kiếp tái sanh may có gặp không? Gửi tử sanh nầy có tủi không ?
Kiếp nầy đành thẹn với non sông Nghĩ ra thêm thẹn với non sông
Chiêm bao lẩn thẩn theo chơn bướm Bốn bề chỉ thấy người đen trắng
Tin tức bơ vơ lạc cánh hồng dạ không khuây giống Lạc Hồng
Tính tới tính lui thân cá chậu Ngày gửi buồn theo hơi gió lọt
Lo quanh lo quẩn phận chim lồng Đêm khuya thẹn với bóng trăng lồng
Đã không chung hưởng thôi thời chớ Nỗi niềm biết mấy ai bày tỏ
Sao nỡ xa nhau chồng hỡi chồng ! Trời rộng mênh mông núi chập chồng.




Hỡi chồng ! có thấu nỗi nầy chăng ? Chập chồng biết có nẻo nào chăng
Sóng gió khi không dậy đất bằng Nhắn nhủ cùng ai kẻ bạn bằng
Non nước chia hai trời lộng lộng Tơ tóc kiếp nầy đành ngắn ngủi
Cha con riêng một biển giăng giăng Bèo mây nỗi ấy nói dài giăng
Mối sầu kia gỡ khoanh chưa hếtChiêm bao họa có đôi khi gặp
Giọt thảm nầy tuôn bửng khó ngăn Tin tức bây giờ lắm nỗi ngăn
Ngán bấy cuộc đời khôn gượng gạo Căn dặn đôi lời ghi để dạ
Canh chầy còn ở dưới cung trăng. Thương thay chênh chếch nửa vầng trăng




Ở dưới cung trăng luống nỉ nonChếch nửa vầng trăng một nước non
Đắng cay như ngậm trái bồ hòn Một cây thôi đã khó nên hòn
Khói mây giọng quốc nghe hơi mỏn Kêu sương tiếng nhạn hơi ròng rã
Sương tuyết mình ve nhắm đã mòn Nhớ nước chim quyên gáy héo mòn
Lằn mõ làng xa canh cốc cốc Lạch tống quanh nhà xô cuộn
Tiếng chuông chùa cũ dộng bon bon Đồng hồ trên vách đánh boong boong
Nỗi riêng ai biết ta thương nhớ Mực mài nước mắt tình không cạn
Chồng hỡi chồng ! con hỡi con ! Vợ hỡi vợ ! con hỡi con !

(Thượng Tân Thị) (Vua Thành Thái)

Họa Vận



* Nguyên tắc căn bản




Theo Diên Hương về Xướng Họa:

Một người khởi xướng làm một bài tứ tuyệt hay bát cú; một người nữa hay nhiều hơn lấy
vận bài đó làm một bài thơ khác để trả lời.




Ông Quách Tấn viết về thơ Họa Vận, mà ông còn gọi là thơ Canh Họa.

Canh Họa hay Họa Vận là đáp họa lại những vận ngữ (hay vận cước) được dùng trong
một bài thơ khác , tức là bài xướng. Vì vậy người họa trước hết phải xem bài xướng diễn tả sự
gì, vật gì, ý cảnh như thế nào thì mới đáp họa lại được.




Nếu chính người xướng tự họa thì gọi là Hựu hay Hựu Thể.
Hình thức của thơ Họa Vận (Canh Họa) tùy theo vận (vần) của bài thơ.

Thứ Vận là dùng những vần theo đúng thứ tự của vần bài xướng. Đó là bài thơ Họa Nguyên
Vận.


Dụng Vận là dùng những vần của bài xướng mà không cần theo thứ tự như những vần trong bài
xướng. Có 2 loại Dụng Vận:

. Họa Nghịch Vận là dùng những vần của bài xướng nhưng theo thứ tự ngược lại với thứ
tự của những vần của bài xướng.

. Họa Hoán Vận là dùng những vần của bài xướng nhưng không theo thứ tự nào cả.


Y Vận là dùng những vần cùng một vận bộ (bộ vần) với bài xướng chớ không theo đúng những
vần của bài xướng (nguyên bản, nguyên tác) đã dùng.

Thí dụ: Bài xướng dùng những vần: "phương, vương, sương, đương, nường". Bài họa dùng
những vần cùng bộ vần "ương" nhưng những vần của nó không hoàn toàn gồm có "phương,
vương, sương, đương, nường" mà còn có thể hoàn toàn khác hẳn như "tường, thương, hương,
chương, dương" trong bộ vần "ương".

Trong văn học sử thơ Việt ngữ (chữ Hán Nôm hay chữ Quốc ngữ) thì không có thi nhân nào
dùng Y Vận trong bài họa.




Ngoài qui luật về Hình thức như trên, thơ Họa vận phải theo 3 Qui lệ là:

Bài họa phải cùng một thể luật như bài xướng, nghĩa là hễ bài xướng thể thất ngôn luật bằng
thì bài họa cũng vậy.


Những vần của bài họa phải cùng một nghĩa với những vần với bài xướng. Ví dụ:

Vần bài xướng là đường là con đường thì bài họa cũng phải dùng vần đường với nghĩa
con đường chớ không được dùng chữ đường là đường mía hay đường là nhà...

Vần bài xướng là vần châu là hạt châu thì không được dùng trong bài họa chữ châu là
châu quận hay châu là thuyền...


Những chữ đứng trước vận ngữ bài họa, tức là chữ thứ 6 trong câu bỏ vần, đều không được
trùng với chữ đứng trước vận ngữ, tức chữ thứ 6 trong câu bỏ vần, bài xướng. (Như không được
dùng "mến thương" để họa "mến thương" mà phải họa bằng "nhớ thương" hay "tiếc thương"...)




Ba Qui lệ nầy được triệt để tuân thủ trong thơ chữ Hán. Nhưng trong thơ Quốc Âm (chữ Nôm
hay chữ Quốc Ngữ), nhất là từ khi chữ Hán cáo chung, thì không còn được áp dụng một cách
chặc chẽ nữa. Qui lệ thứ 3 còn được phần đông tuân theo.




Ông Diên Hương có bàn thêm về Qui lệ thứ 3:

Có khi người xướng muốn phá mình, dùng vận chết (tử vận). Tiếng một thì mình cũng
phải theo nghĩa tiếng đó mà họa. Còn người ta dùng tiếng đôi (như: bâng khuâng, lần khân, khúc
khỉu, sật sừ...) thì mình có thể dùng tiếng đôi đó mà họa lại cho ăn với bài xướng.

Theo ngu ý nếu người họa muốn nhấn mạnh bằng tiếng đôi thì cũng dùng lại tiếng đôi của bài
xướng cho rõ nghĩa.




Ông Diên Hương còn chú ý thêm: nếu bài xướng dùng biến thể nào thì bài họa cũng dùng




Theo ông Diên Hương về Xướng Họa:

Một người khởi xướng làm một bài tứ tuyệt hay bát cú; một người nữa hay nhiều hơn lấy
vận bài đó làm một bài thơ khác để trả lời.

Như vậy bài thơ họa là bài thơ trả lời bài thơ xướng về một đề tài nào đó. Như vậy cả 2 bài thơ
có nội dung về cùng một đề tài (mặc dù không cần có cùng một tựa đề).




Theo ông Quách Tấn, về nội dung của cùng một đề tài thì bài họa có 6 phép so với bài xướng:

Song Hành là đi song song với nhau, nghĩa là người xướng và người họa đứng trên một
lập trường, cùng diễn tả một ý tưởng.

Song Lập là đứng song song với nhau. Khác với Song Hành là song hành thì ý đồng.
Song Lập là ý không đồng nhưng không phản. Nghĩa là xướng cùng họa đứng chung một địa
phận nhưng mỗi bên diễn mỗi ý khác nhau. Song Hành giống như 2 con sông chảy song song,
nước bên sông này giao tiếp với nước sông bên kia (hoặc ẩn hoặc hiện, hoặc khi ẩn khi hiện).
Còn Song Lập thì giống như 2 ngọn núi đứng song song và ngó về một hướng, nằm trên mặt đất
không thấy mối liên lạc với nhau. Tuy khác ý nhưng ý không ra ngoài đề bài, cũng như trên mặt
đất không thấy mối liên lạc với nhau nhưng dưới đất vẫn cùng một sơn mạch.

Tương Ứng tức là xướng hô họa đáp; hoặc hưởng ứng từng câu, từng đoạn; hoặc dồn ý cả
toàn thiên đáp ứng lại.

Tương Phản là Xướng và Họa đứng trên 2 trận tuyến đối lập.

Khai Triển là nói thêm, bàn thêm những gì nguyên xướng đã nói đã bàn rồi nhưng chưa

đủ chưa trọn.

Bổ Khuyết là bổ sung vào nguyên xướng những điều đáng nói mà nguyên xướng không
nói vì quên hay vì không tiện nói ra.




Ngày nay, đề tài họa vận thuộc vào 3 trường hợp khác như của ông Diên Hương và ông Quách
Tấn:

Bài thơ họa vận có nội dung cùng đề tài với bài xướng nhưng một bài họa dùng nhiều(kể cả 6 phép như của ông Quách Tấn) chứ không phải chỉ dùng một phép.

Bài thơ họa vận có nội dung về một đề tài khác với bài xướng nhưng có liên quan. Thí
dụ: bài xướng viết về "Bến sông" thì bài họa có thể viết về một bến sông đặc biệt như "Bến Ninh
Kiều".

Bài thơ họa vận có nội dung về một đề tài khác và không có liên quan với đề tài của bài
xướng. Trong trường hợp nầy, thi nhân thường khiêm nhường là "họa nương vận".



* Lịch sử




Hai bài thơ Xướng Họa đầu tiên dùng Hán ngữ (và Hán tự) là của vua Lê Thái Tông và ông
Nguyễn Trãi khi vua gặp ông Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là nơi ông về hưu.




- Bản Hán ngữ (Xướng Họa):




Ngự Chế Tao Ngộ Thi: Ngự Chế Tao Ngộ Thi Phụng Họa:

(Xướng) (Họa)

Duyệt bãi lâu thuyền hải thượng hồi
Phảng phất quân thiên mộng kỷ hồi
Côn trang đắc đắc lục phi lai 
Sơn trung kinh hỷ thúy hoa lai
Chỉ kim Lục Dã nhàn vân thự 
Di châm thân cảm tiên triều cựu
Thượng ức Lam Sơn phụ phượng
 tài Định sách đa tâm tá trị tài

Hồ lý hữu thiên vong giáp tý 
Tự hạnh nhàn thân khâu hác chí (*)
Sơn trung vô địa khởi lâu đài
 Cảm ngôn vô địa khởi lâu đài
Bằng thùy vĩ ngã đan thanh thủ 
Hồ sơn tao ngộ thần du lạc
Họa xuất hồ sơn điểm liễu mai.
 Vũ lộ xuân đầm nhuận liễu mai.
(Lê Thái Tông) (Nguyễn Trãi)



- Bản dịch ra Việt ngữ (Xướng Họa):


Thơ Tao Ngộ của Vua: Vâng mệnh họa Thơ Tao Ngộ của Vua:

(Xướng) (Họa)

Thuyền trận duyệt xong buổi thoái hồi 
Mộng tưởng ngôi cao biết mấy hồi
Côn Sơn xe ngựa ruổi qua chơi
 Cả mừng xe ngọc kíp lên chơi
Thăm nền lục dã nhìn mây rỗi
 Khắc lời thánh đế răn tôi cũ
Nhớ thuở Lam Sơn trổ phượng tài
 Góp sức triều cương thẹn bất tài

Trong động riêng trời quên tuổi giáp 
May được nhàn thân bên suối động
Bên non hiếm đất dựng lâu đài
 Dám đâu riêng đất dựng lâu đài (*)
Đan thanh nét vẽ nhờ ai đó 
Nước non hội ngộ chào long giá
Tô điểm núi hồ cảnh liễu mai
 Mưa móc đầm đìa nhuận liễu mai. (*)
(Vân Trình dịch) (Vân Trình dịch)




(*) Chú thích:

Khâu hác chí=cái chí để ở nơi gò hang.

Ông Nguyễn Trãi cũng dùng 2 chữ “lâu đài” và “liễu mai” để họa.




Hai bài thơ Xướng Họa đầu tiên dùng Việt ngữ (và chữ Hán Nôm) là của vua Trùng Quang và
ông Nguyễn Biểu vào đời nhà Hậu Trần:




TẶNG NGUYỄN BIỂU ĐI SỨ TỪ TẠ VUA TRÙNG QUANG

(Xướng) (Họa)

Mấy vần thơ cũ ngợi hoàng hoa (*)
Tiếng ngọc từ vâng trước bệ hoa
Trịnh trọng rày nhân dắng khúc ca 
Ngóng tai đồng vọng thuở thi ca
Chiếu phượng mười hàng tơ cặn kẽ
 Đường mây vó ký lần lần trải
Vó câu ngàn dặm tuyết xông pha
 Ải tuyết cờ mao thức thức pha

Tang bồng đã bấm lòng khi trẻ
 Há một cung tên lồng chí trẻ
Khương quế thêm cay tính tuổi già
 Bội mười vàng sắt đúc gan già
Việc nước một mai công ngõ vẹn
 Hổ mình vả thiếu tài chuyên đối
Gác Lân danh tiếng dọi đâu xa. (*) 
Dịch lộ ba ngàn dám ngại xa.
(Trùng Quang Đế Trần Quí Khoách) (Nguyễn Biểu)




(*) Chú thích:

Hoàng Hoa: thường được dùng để ám chỉ công việc của sứ giả.

Gác lân = Kỳ Lân Các nơi vua Hán Quang Vũ Đế nhà Đông Hán treo hình của 24 công

thần.

Chúa Trịnh Căn là thi nhân đầu tiên xướng và tự họa bằng thơ Việt ngữ (và chữ Hán Nôm):




VỊNH VĂN MIẾU VỊNH VĂN MIẾU

(Xướng) (Tự họa)

Xem thấy nguy nga chỉn khác vời 
Tôn trọng không so biết mấy vời
Kinh thành khắn khắn dám lung chơi (*)
 Lẫm nhiên dường ấy há nga chơi (*)
Quy mô vững đặt cao nền đạo
 Vang vang đường bệ nghiêm ngôi thánh
Lễ nhạc dùng ra rộng phép người
 Vọi vọi uy nghi hưởng đức người

Đức ví giang hà nhuần chốn chốn 
Minh phí ẩn hằng an tính vật
Công tày nhật nguyệt sáng đời đời 
Trí trung hòa đã đáng danh đời
Đất sinh có đấng làm tiêu chuẩn 
Đành hay lấy đấy gìn tông pháp
Ý hậu tư dân tượng ở trời. (*) 
Sự sự thi vi thuận lẽ trời. (*)
(Chúa Trịnh Căn) (Chúa Trịnh Căn)




(*) Chú thích:

Khắn khắn = nghiêm cẩn. Lung = bừa bãi. Tượng = có lẽ.

Lẫm nhiên = oai nghiêm lẫm liệt. Nga chơi = (?) xem thường. Thi vi = làm, thực hiện.
Minh phí ẩn=hiểu rõ được (đạo) sâu rộng và kín đáo. “Quân tử chi đạo, phí nhi ẩn” =

“Đạo của người quân tử sâu rộng và kín đáo” (Trung Dung).




Chúa Trịnh Căn cũng là người đầu tiên làm thơ xướng và tự họa bằng Hán ngữ (và Hán tự)




VỊNH VĂN MIẾU VỊNH VĂN MIẾU

(Xướng) (Họa)

Thượng thuật Đường Ngu khế nhất trung 
Chu lưu hạo đãng tế bàn trung
Thúy nhiên điện vũ chính khung sùng
 Đại đạo hoằng khai hải vũ sùng
Quang huy thịnh đức chiêm y cộng 
Quán triệt hồn vô kim tích dị
Dương dật hòa thanh cổ vũ đồng 
Trinh minh thường dữ nhật tinh đồng

Thống nhiếp nhân tâm ngưng chí đạo
 Hi hi vật tượng sinh thành đức
Cương duy quốc thể hiển phong công
 Bát bát diên ngư giáo dục công
Nguy nguy trực dữ kham dư tịnh 
Đoan yết tái bằng thân thị lễ
Cửu hữu quần phương ngưỡng giáo phong 
Thái sơn kiều nhạc ấp cao phong.
(Chúa Trịnh Căn) (Chúa Trịnh Căn)




Bản dịch ra Việt ngữ của bài Xướng:




VỊNH VĂN MIẾU

(Xướng)

Thượng thuật Đường Ngu khế nhất trung
 Trên nối Đường Ngu hợp đạo trung (*)
Thúy nhiên điện vũ chính khung sùng 
Thẳm sâu điện vũ thực tôn sùng (*)
Quang huy thịnh đức chiêm y cộng 
Sáng ngời đức thịnh xem cùng thể
Dương dật hòa thanh cổ vũ đồng 
Dào dạt tiếng vang cổ vũ chung

Thống nhiếp nhân tâm ngưng chí đạo 
Quản giữ lòng người nên đạo cả
Cương duy quốc thể hiển phong công
 Duy trì thế nước rạng cao công
Nguy nguy trực dữ kham dư tịnh 
Sánh cùng trời đất ơn to lớn
Cửu hữu quần phương ngưỡng giáo phong. 
Chín cõi ngàn phương ngưỡng giáo phong.(*)
(Chúa Trịnh Căn) (Trịnh Xuân Tiến dịch)




(*) Chú thích:

Đường Nghiêu và Ngu Thuấn: 2 vị vua thời thượng cổ tượng trưng cho thái bình thịnh trị
Thiên Hạ của Nho Giáo.

Điện vũ=cung điện nhà cửa

Giáo phong=giáo dục và phong hóa.




Bản dịch ra Việt ngữ của bài tự họa:




VỊNH VĂN MIẾU

(Tự họa)

Chu lưu hạo đãng tế bàn trung 
Mênh mang chảy khắp đó cùng đây
Đại đạo hoằng khai hải vũ sùng 
Đạo lớn mở ra chốn chốn đầy
Quán triệt hồn vô kim tích dị 
Thấu hết cổ kim không khác dị
Trinh minh thường dữ nhật tinh đồng 
Tỏ tường tinh nhật bóng lung lay (*)
Hi hi vật tượng sinh thành đức 
Hây hây cảnh vật đều sinh nở

Bát bát diên ngư giáo dục công 
Bát ngát diều ngư thỏa nhảy bay
Đoan yết tái bằng thân thị lễ
 Kính lễ chân thành thân bái yết
Thái sơn kiều nhạc ấp cao phong. 
Non Kiều núi Thái thảy ngang bày.
(Chúa Trịnh Căn) (Trịnh Xuân Tiến dịch)




(*) Chú thích: Tinh=ngôi sao. Nhật=mặt trời




4 bài thơ Vịnh Văn Miếu trích trong “Ngự Đề Thiên Hòa Doanh Bách Vịnh” của chúa Trịnh Căn
(tất cả 44 bài). Đây là 2 bài thơ ĐLTNBC xướng và tự họa bằng chữ Hán và 2 bài thơ ĐLTNBC
xướng và tự họa bằng chữ Hán Nôm (quốc âm) đầu tiên trong văn học sử.



Thơ Xướng Họa và Xướng với Tự họa dùng chữ Quốc ngữ (và Việt ngữ) đầu tiên là bài
Xướng của ông Trương Minh Ký, 2 bài họa của ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và ông Petrus
Trương Vĩnh Ký và bài tự họa của ông Trương Minh Ký nhân dịp ra mắt sách Như Tây Nhựt
Trình của ông Trương Minh Ký. Bốn bài thơ nầy theo biến thể Khoáng Thủ đã được đăng trong
bài nầy làm thí dụ cho biến thể Khoáng Thủ.





Tiếp vận




Tiếp Vận = Thay vì là Xướng Họa thì là Xướng Tiếp. Bài Tiếp (tiếp theo bài Xướng) chỉ cần
dùng vận cuối của bài Xướng làm vận đầu (của bài Tiếp). Bài Tiếp có thể có cùng hoặc khác tác
giả với bài Xướng. Bài Tiếp thường là nói thêm ý cho bài Bài Xướng (khai triển, bổ khuyết)
nhưng có thể có nội dung giống như bài Họa (dùng 6 phép của ông Quách Tấn).

Cùng một tác giả:




THU HỨNG (Xướng)

Cảnh vật mùa thu mở lối đường
Khơi nguồn nghệ thuật thú văn chương
Lạnh lùng thời tiết qua mưa nắng
Ảm đạm thiên nhiên đổi sắc hương
Cảm động tâm tư, lòng tiếc nhớ
Cảm hòa tình tứ, dạ sầu thương
Thi nhân say tỉnh hồn thơ mộng
Thu hứng nên vần thỏa vấn vương.
(Phan Thượng Hải)




THU HỨNG (Tiếp)

Đa tài nghệ sĩ ý thơ vương
Khi đến mùa thu tứ tỏ tường
Tả cảnh văn hoa theo ước lệ
Tả tình lãng mạn khác bình thường
Tuổi già thức ngộ đời thanh tịnh
Nước cũ quan hoài dạ tiếc thương
Thơ thẩn sắc không vui xướng họa
Tùy duyên thi hứng tựa thu hương.
(Phan Thượng Hải)





Khác tác giả:




ĐÔNG HÀN CẢM HỨNG (Xướng)

Lất phất mưa bay gió lạnh lùng
Đông hàn cám cảnh mối sầu chung
Những mong cánh én mang xuân lại
Chỉ thấy mưa phùn cợt gió đông
Phóng bút mấy phen thơ chẳng đạt
Nghiêng bầu đôi bận ý không cùng
Bên trời ngoảnh lại đâu quê quán?
Chỉ thấy mưa bay gió mịt mùng.
(Hoàng Hoa Nguyễn Hoài Trung)




ĐÔNG HÀN CẢM HỨNG (Tiếp)

Cám cảnh mưa bay gió mịt mùng
Đông hàn ước lệ tứ hoài trung
Làm thơ luyến tiếc lòng nhung nhớ
Mượn rượu sầu vương dạ não nùng
Kỳ vọng quê hương xa vạn lý
Mộng mơ cố quốc quá ngàn trùng
Xuân nồng niên lão hồn thi sĩ
Say ngắm Hằng Nga bạn bách tùng.
(Phan Thượng Hải)





Khác tác giả: vừa có Họa vận vừa có Tiếp vận:
SÀI GÒN DI TẢN (Nguyên bản)

Covid tung hoành tạo tai ương
Đoàn người tháo chạy ngập tràn đường
Quàng con khăn ấm - tình yêu mẹ
Nối gót chân mềm - cảnh đoạn trường
Đà Nẵng tạm dừng - mưa bất kể
Lào Cai cứ tiến - nắng coi thường
Sài Gòn - xưa đến tương lai rạng
Nay phải bỏ đi trong thảm thương.
(Trương Ngọc Thạch)

8/4/21




SÀI GÒN ĐẠI DỊCH (Họa)

Đại dịch Sài Gòn tựa cá ương
Công an chận hết các con đường
Delta lan rộng, im lìm chợ
Cô Vít hoành hành, vắng lặng trường
Cán bộ tuyên truyền toàn giả dối
Đồng bào chạy trốn chẳng bình thường
Khẩn xin Phật Chúa ban ơn phước
Cứu giúp Sài Gòn lắm luyến thương.
(Chánh Minh Nguyễn Văn Minh)
8/5/21




SÀI GÒN DỊCH BỆNH (Tiếp)

Dịch bệnh hoành hành chịu thảm thương
Sài Gòn phong tỏa mọi con đường
Hết bao gặp gỡ không còn chợ
Ngưng những ăn chơi chẳng có trường
Kinh tế suy tàn, dân khốn khổ!
Văn minh suy thoái, chuyện vô thường?!
Đồng bào tội nghiệp đang lâm nạn
Viễn xứ nguyện cầu với xót thương.
(Phan Thượng Hải)

8/5/21


Cùng Một Tựa Đề= Nhiều tác giả làm nhiều bài thơ liên quan với nhau nhưng không cần phải là xướng họa hay tiếp vận nhưng có cùng một tựa đề.




Thí Dụ:

Tựa đề = ĐÊM KHÔNG NGỦ




(Bài 1)

Đêm khuya vương vấn mối sầu quanh
Thỉnh thoảng ngoài hiên gió thổi mành
Giọng dế nỉ non cùng bốn vách
Giọt mưa rỉ rả suốt năm canh
Nằm không yên giấc nên trằn trọc
Ngồi chỉ lo đời muốn rắp ranh
Khêu ngọn đèn lên nhìn lấy bóng
Thở than mình chịu kiếp hư danh
(Thượng Tân Thị)




(Bài 2)

Non sông bốn mặt ngủ mơ màng
Thức tỉnh mình ta dạ chẳng an
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn
Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ
Buồn giúp công danh dế dạo đàn
Trỗi dậy nôm na vài điệu cũ
Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.
(Hàn Mặc Tử)


Sưu tầm