Thơ Đường Luật xuất hiện từ thời vua Đường Trung Tông và Võ Tắc Thiên ở Trung Quốc và du nhập vào đất Việt trong thời Bắc thuộc. Sau khi giành tự chủ (năm 938), người Việt bắt đầu làm thơ Đường Luật Hán ngữ từ thời nhà Lý.
Biến thể của thơ Đường Luật được ghi chép và truyền bá nhờ trước tác của ông Diên Hương và ông Quách Tấn vào cuối thời Pháp Thuộc. Sau năm 1975, lại có nhiều biến thể độc đáo nữa được thi nhân tạo ra. Bài viết này tổng hợp và trình bày các biến thể đặc sắc nhất của thơ Đường Luật, chủ yếu là thể Thất Ngôn Bát Cú.
Biến thể của thơ Đường Luật được ghi chép và truyền bá nhờ trước tác của ông Diên Hương và ông Quách Tấn vào cuối thời Pháp Thuộc. Sau năm 1975, lại có nhiều biến thể độc đáo nữa được thi nhân tạo ra. Bài viết này tổng hợp và trình bày các biến thể đặc sắc nhất của thơ Đường Luật, chủ yếu là thể Thất Ngôn Bát Cú.
1. Vị trí Đầu & Đuôi
2. Điệp từ & Nghệ thuật chữ
3. Thanh âm & Vần điệu
4. Tập danh & Điển tích
5. Cấu trúc bài
6. Hồi văn & Đa biến thể
7. Xướng họa & Liên hoàn
I. Các Biến Thể Đầu Và Đuôi Câu
1. Bình Đầu - Thủ Nhất Thanh (Thủ Nhất Đồng)
Bình Đầu = Chữ đầu của mỗi câu thơ đều dùng một chữ như nhau (Bình = đều nhau).
Thủ Nhất Thanh hay Thủ Nhất Đồng = Từ ngữ đứng đầu của tất cả các câu thơ đều giống nhau (chỉ dùng từ đơn).
Thủ Nhất Thanh hay Thủ Nhất Đồng = Từ ngữ đứng đầu của tất cả các câu thơ đều giống nhau (chỉ dùng từ đơn).
Biến thể này bắt đầu xuất hiện trong thơ chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ 20, tiêu biểu trên tuần báo Phụ Nữ Tân Văn:
Nghĩ Đời
Nghĩ rồi chán ngán chị em ơi
Nghĩ nỗi gần xa ruột phải sôi
Nghĩ đến đường đời đen tợ mực
Nghĩ cho dạ thế bạc nhường vôi
Nghĩ ruồi sỉa cảng vì ve mật
Nghĩ cá vào câu bởi miếng mồi
Nghĩ đủ trăm vành chi cũng nghĩ
Nghĩ quanh nghĩ quẩn rối bời bời.
Hai bài thơ nổi tiếng đặt nền tảng cho biến thể này là cặp bài Sống — Chết của chí sĩ Đặng Văn Bá làm khi cụ Phan Châu Trinh qua đời (1925):
Chết
Chết mà vì nước, chết vì dân
Chết ấy làm trai hết nợ nần
Chết bởi Đông Chu thời thất quốc
Chết vì Tây Hán lúc tam phân
Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh
Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần
Chết cụ Tây Hồ hồn chẳng chết
Chết mà vì nước, chết vì dân.
Sống
Sống dại mà chi sống chật đời
Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai?
Sống làm nô lệ cho người khiến
Sống chịu ngu si để bạn cười
Sống tưởng công danh không tưởng nước
Sống lo phú quí chẳng lo đời
Sống mà như thế đừng nên sống
Sống dại sinh chi đứng chật đời.
1a. Thủ Nhất Tự
Thủ Nhất Tự = Chữ cái (mẫu tự) đứng đầu các câu thơ của một bài thơ đều giống nhau. Biến thể này xuất hiện sau năm 1975.
Mơ Hoa
Lá trải thêm mùa ruộm ý nguyên
Lời thương vẫn ủ nét mơ huyền
Len dòng nhạc đẫm cung hờn tuổi
Lỗi giọt tơ nhòa mắt ngẩn duyên
Luống cỏ miền xa dằn nhụy nắng
Lề sông thuở cũ mộng hoa thuyền
Lay chiều ước hẹn trăng viền gió
Lẩn khuất hương tình gợi thúy uyên.
2. Khoán Thủ (Dĩ Đề Vi Thủ)
Khoán Thủ = Chữ đầu câu của tất cả các câu thơ ghép lại từ trên xuống dưới thành một câu có nghĩa riêng đã quy ước trước (Khoán = giao hẹn trước). Nếu lấy chính tựa đề làm các chữ đầu câu thì gọi là Dĩ Đề Vi Thủ.
Chí Chẳng Chờ Ngày, Tài Không Đợi Tuổi
Chí hạnh dường thông ắt tỏ mình
Chẳng vì mất được cõi tam sinh
Chờ thanh ý ngọc bền tay giũa
Ngày sáng bờ vui trải diễm tình
Tài đặng nhân bồi xua hắc ám
Không ghì oán xả chói anh minh
Đợi lay tiềm thức bừng ân điển
Tuổi hội tâm an vững cước trình.
2a. Chiết Tự Khoán Thủ & 2b. Chiết Tự Khoán Tâm
Chiết Tự Khoán Thủ: Các chữ cái đầu câu ghép lại thành một từ/tên riêng (Chiết = bẻ nhỏ tự dạng).
Chiết Tự Khoán Tâm: Các chữ cái ở vị trí chữ thứ 4 (trung tâm câu) ghép lại thành tựa đề.
Chiết Tự Khoán Tâm: Các chữ cái ở vị trí chữ thứ 4 (trung tâm câu) ghép lại thành tựa đề.
Quốc Bình (Chiết Tự Khoán Thủ)
Quang trời nắng dệt ánh hồng say
Uống giọt nguồn khơi tỏ tháng ngày
Ống kính không gian tầm sóng phủ
Con thuyền vũ trụ lướt sao bay
Bao luồng nghĩa cả từng suy gẫm
Ít khoảng tình riêng chẳng giải bày
Ngấm đủ tinh hoa từ cuộc sống
Hương mùa kết đọng những vần hay.
Ghép các chữ cái đầu câu: Q-U-Ố-C-B-Í-N-H
Quốc Bình (Chiết Tự Khoán Tâm)
Đây, miền tổ quốc thật là xinh
Hết cảnh âm u sẽ rạng hình
Dạ ngẫm đời ôn vàn khó nhọc
Noi dòng trải cuộc mấy quang vinh
Lùa xuân vút bổng trời ân ái
Dỗ biến nằm im gió tự tình
Để bữa trăng ngời khi nắng hửng
Mai này thỏa hẹn ngõ bình minh.
Ghép chữ cái thứ tư ở giữa câu: q-u-ô-c-b-i-n-h
3. Vĩ Tam Thanh (Vỹ Tam Thanh)
Vĩ Tam Thanh = Ba tiếng cuối cùng của mỗi câu đều phát âm giống nhau (cùng âm vần nhưng đảo thanh điệu khác nhau). Đây là một biến thể cực kỳ công phu.
Vô Đề
Tai nghe gà gáy tẻ tè te
Bóng ác vừa lên hé hẻ hè
Non một chồng cao von vót vót
Hoa năm sắc nở lỏe lòe loe
Chim tình bầu bạn kia kìa kỉa
Ong nghĩa vua tôi nhẹ nhẻ nhè
Danh lợi mặc ai ti tí tỉ
Ngủ trưa chưa dậy khỏe khòe khoe.
4. Yết Hậu (Yết Hậu Thi)
Yết Hậu = Câu kết của bài thơ bị cắt cụt, chỉ còn 1 hoặc 2 chữ mang vần, tạo sự hẫng hụt, bất ngờ, hóm hỉnh (Yết = hết, Hậu = sau cùng).
Tự Trào (Tứ Tuyệt Yết Hậu)
Sống ở dương gian đánh chén chè
Chết về âm phủ cắp kè kè
Diêm vương phán hỏi rằng chi đó
Be! ...
Ông Táo
Hăm ba ông Táo dạo chơi xuân
Đội mũ mang hia chẳng mặc quần
Thượng đế hỏi sao ăn mặc thế?
Duy tân.
5. Thủ Vĩ Ngâm & Thủ Vĩ Điệp Vận
Thủ Vĩ Ngâm: Câu đầu và câu cuối của bài thơ lặp lại hoàn toàn giống hệt nhau.
Thủ Vĩ Điệp Vận: Câu đầu và câu cuối trùng lặp chữ vần gieo ở đuôi câu.
Thủ Vĩ Điệp Vận: Câu đầu và câu cuối trùng lặp chữ vần gieo ở đuôi câu.
Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!
Cái nợ trần gian đã hết rồi
Chôn chặt văn chương ba tấc đất
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời
Đòn cân tạo hóa đà rơi mất
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!
6. Phá Lục & Trốn Vận
Phá Lục: Bài thơ thất ngôn nhưng riêng câu đầu tiên bị phá luật, chỉ có 6 chữ.
Trốn Vận: Câu 1 không gieo vần, vần bắt đầu từ câu 2; đồng thời cặp Đề (câu 1-2) phải đối ngẫu nghiêm ngặt với nhau.
Trốn Vận: Câu 1 không gieo vần, vần bắt đầu từ câu 2; đồng thời cặp Đề (câu 1-2) phải đối ngẫu nghiêm ngặt với nhau.
Vịnh Trâu Già (Phá Lục)
Một nắm xương, một nắm da (6 chữ)
Bao nhiêu cái ách cũng từng qua
Đuôi cùn biếng cột Điền Đơn hỏa
Tai nặng buồn nghe Nịnh Tử ca
Sớm dạo vườn Nghiêu ăn hủng hỉnh
Tối về nội Võ thở hê ha
Ngày xưa mắc phải nơi Đường Hạ
Ơn có Tề vương cứu lại tha.
Chiều Ngang Xóm Cũ (Trốn Vận)
Đạp nước, con chuồn lay ngấn ảnh (Không vần)
So diều, cánh nhạn vỗ tầng không (Đối câu 1)
Mùa hăng gió quẩn đầy tia mắt
Vị ngát chân in nửa quãng đồng
Trước sảnh cau già thưa nụ trỗ
Bên rào chuối kẹ vắng người trông
Vầng trăng lấp ló chiều quen dội
Ánh quyện hình xưa bếp lửa hồng.
II. Các Biến Thể Về Từ & Cấu Trúc Ngôn Ngữ
7. Bát Điệp - Bát Điệp Song Ngữ - Độc Vận
Bát Điệp: Một từ lặp lại trong cả 8 câu của bài thơ bát cú.
Bát Điệp Song Ngữ Độc Vận: Dùng 2 từ đối nhau đi suốt bài thơ, trong đó 1 từ dùng làm vần duy nhất (độc vận) cho toàn bài.
Bát Điệp Song Ngữ Độc Vận: Dùng 2 từ đối nhau đi suốt bài thơ, trong đó 1 từ dùng làm vần duy nhất (độc vận) cho toàn bài.
Dại Khôn (Bát Điệp Song Ngữ Độc Vận)
Làm người có dại mới nên khôn
Chớ dại ngây si chớ quá khôn
Khôn được ích mình đừng rẻ dại
Dại thì giữ phận chớ tranh khôn
Khôn mà hiểm độc là khôn dại
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn
Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại
Gặp thời, dại cũng hóa thành khôn.
Song ngữ đối lập: Dại ⇄ Khôn; chữ "Khôn" làm độc vận cho 5 vị trí vần.
8. Lưỡng Đầu Xà & Lưỡng Đầu Xà Nghịch Thiệt (Nói Lái)
Lưỡng Đầu Xà: Đầu câu và cuối câu có 2 cụm từ đảo trật tự chữ cho nhau như con rắn hai đầu (Ví dụ: Vây ngõ ⇄ Ngõ vây).
Lưỡng Đầu Xà Nghịch Thiệt: Hai chữ đầu câu nói lái thành hai chữ cuối câu.
Lưỡng Đầu Xà Nghịch Thiệt: Hai chữ đầu câu nói lái thành hai chữ cuối câu.
Hương Mùa Vây (Lưỡng Đầu Xà)
Vây ngõ sông hồ lượn ngõ vây
Đầy hương ủ nhụy ngát hương đầy
Núi vờn quãng bổng tiêu vờn núi
Mây dạo cung trầm én dạo mây
Nhỏ bước ghìm âm dằn bước nhỏ
Gầy trăng dợn ảnh vỡ trăng gầy
Khẽ lùa cánh mỏng, tơ lùa khẽ
Cây ngả vai chiều... bóng ngả cây.
Hương Đông (Lưỡng Đầu Xà Nghịch Thiệt)
Đông tràn, lũ họa khép đàn trông
Vồng ngút triền đê cải vút ngồng
Đậm gió trai hiền quăng đó giậm
Nông cày nữ đảm nhắc này công
Vữa sương, lúa hẹn kỳ vương sữa
Chồng đất màu vun buổi chất đồng
Tắm thỏa hương đời khi tỏa thắm
Bông sờ nặng trĩu khoảnh bờ sông.
9. Bát Cú Phân Minh (Điệp Phụ Âm Đầu)
Độc Nữu: Toàn bộ các chữ trong cả 8 câu đều dùng chung một phụ âm đầu duy nhất.
Bát Nữu: Mỗi câu dùng một phụ âm đầu riêng biệt lặp lại suốt câu đó.
Bát Nữu: Mỗi câu dùng một phụ âm đầu riêng biệt lặp lại suốt câu đó.
Bệnh Tương Tư (Độc Nữu: Toàn âm T)
Tại tình tồi tệ tựa tàn tơ
Tán tỉnh tương tư tám tỷ tờ
Thổn thức thêu thùa than thấy thánh
Thầm thì thệ thốt thở thành thơ
Trong trời trắc trở trăm trần trụi
Trên trán tàn trề triệu trống trơ
Tức tưởi tim tôi tiều tụy tái
Thì thôi thủng thẳng thử theo thờ.
10. Tập Danh & Tập Tính Danh
Tập Danh: Lồng ghép tên các loài vật, cây cỏ, bài tây, quẻ dịch... vào từng câu thơ mà không làm mất đi nghĩa tự nhiên của bài.
Tập Tính Danh: Lồng ghép thành ngữ, tục ngữ, ca dao hoặc tên bài hát vào mỗi câu thơ.
Tập Tính Danh: Lồng ghép thành ngữ, tục ngữ, ca dao hoặc tên bài hát vào mỗi câu thơ.
Rắn Đầu Biếng Học (Tập Danh Rắn)
Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà
Rắn đầu biếng học lẽ không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo
Lằn lưng cam chịu vệt năm ba
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.
8 loài rắn: Liu điu, rắn đầu, hổ lửa, mai gầm, rắn ráo, rắn lằn, rắn trâu, hổ mang.
Khất Nợ Thua Tổ Tôm (Tập Danh Bài)
Thân bác văn tôi đã xác vờ
Trong nhà còn biết bán chi giờ?
Của trời cũng muốn không thang bắc
Lộc thánh còn mong lục sách chờ
Thiên tử nhất văn rồi chẳng thiếu
Nhân sinh tam vạn hãy còn thừa
Đã không nhất sách kêu chi nữa
Ông lão tha cho cũng được nhờ.
8 quân bài tổ tôm: Bác văn, Bán chi, Thang thang, Lục sách, Nhất văn, Tam vạn, Nhất sách, Ông lão.
III. Các Biến Thể Hồi Văn & Đa Bài
11. Thuận Nghịch Độc (Đọc Xuôi & Đọc Ngược)
Thuận Nghịch Độc: Bài thơ đọc xuôi (từ trên xuống) là một bài thơ chuẩn luật; đọc ngược (từ chữ cuối bài ngược lên đầu) lại hóa thành một bài thơ hoàn chỉnh khác.
Em Và Xuân (Đọc Xuôi)
Em cười tiếng bổng vút triền xuân
Ngọt đẫm kìa môi ửng sắc ngần
Rèm tóc chải mây hàng liễu gợn
Mắt hồ in ngọc phím chiều ngân
Xem vừa ý nguyện khơi vàng đá
Tỏ sẵn nguồn duyên định số phần
Kèm phấn nhụy xinh vườn trĩu nở
Em chào nắng nhỉ, thế là xuân!
Em Và Xuân (Đọc Ngược)
Xuân là thế nhỉ, nắng chào em
Nở trĩu vườn xinh nhụy phấn kèm
Phần số định duyên nguồn sẵn tỏ
Đá vàng khơi nguyện ý vừa xem
Ngân chiều phím ngọc in hồ mắt
Gợn liễu hàng mây chải tóc rèm
Ngẩn sắc ửng môi kìa đẫm ngọt
Xuân triền vút bổng tiếng cười em.
12. Lục Chuyển Hồi Văn (1 Bài Hóa 6 Bài)
Từ 1 bài thơ Thất ngôn bát cú nguyên bản, qua các phép đọc ngược, bỏ 2 chữ đầu (thành Ngũ ngôn vần Bằng), bỏ 2 chữ cuối (thành Ngũ ngôn vần Trắc) sẽ sinh ra tổng cộng 6 bài thơ chuẩn luật.
Vô Đề (Bài Gốc Của Vua Tự Đức)
Gương tà nguyệt xế đã ngoài song
Héo hắt sao trông quá sức trông
Thương bấy thiết tha lòng héo liễu
Nhớ thêm vàng vọ má phai hồng
Vương sầu xiết tưởng chi ngôi bắc
Ðoạn thảm xui buồn vã chạnh đông
Chàng hỡi biết chăng ai bực bội
Loan hàng viết thảo tả tình chung.
6 bài chuyển đổi gồm:
1. Đọc xuôi Thất ngôn bát cú (vần Bằng).
2. Đọc ngược Thất ngôn bát cú (vần Bằng).
3. Bỏ 2 chữ đầu đọc xuôi -> Ngũ ngôn bát cú (vần Bằng).
4. Bỏ 2 chữ đầu đọc ngược -> Ngũ ngôn bát cú (vần Bằng).
5. Bỏ 2 chữ cuối đọc xuôi -> Ngũ ngôn bát cú (vần Trắc).
6. Bỏ 2 chữ cuối đọc ngược -> Ngũ ngôn bát cú (vần Trắc).
1. Đọc xuôi Thất ngôn bát cú (vần Bằng).
2. Đọc ngược Thất ngôn bát cú (vần Bằng).
3. Bỏ 2 chữ đầu đọc xuôi -> Ngũ ngôn bát cú (vần Bằng).
4. Bỏ 2 chữ đầu đọc ngược -> Ngũ ngôn bát cú (vần Bằng).
5. Bỏ 2 chữ cuối đọc xuôi -> Ngũ ngôn bát cú (vần Trắc).
6. Bỏ 2 chữ cuối đọc ngược -> Ngũ ngôn bát cú (vần Trắc).
13. Xa Luân Ngũ Bộ & Lộc Lư Ngũ Bộ
Xa Luân Ngũ Bộ: Chùm 5 bài thơ liên hoàn, các câu gieo vần của bài 1 lần lượt xoay vòng làm câu phá đề (câu 1) của 4 bài tiếp theo như bánh xe quay tròn.
Lộc Lư Ngũ Bộ: Câu chủ đề lần lượt tịnh tiến ở các vị trí câu 1, câu 2, câu 4, câu 6 và câu 8 xuyên suốt chùm 5 bài.
Lộc Lư Ngũ Bộ: Câu chủ đề lần lượt tịnh tiến ở các vị trí câu 1, câu 2, câu 4, câu 6 và câu 8 xuyên suốt chùm 5 bài.
IV. Các Biến Thể Liên Hoàn & Xướng Họa
14. Thủ Vĩ Liên Hoàn (Thủ Vĩ Tương Lân)
Lấy câu kết của bài trước làm câu phá (câu đầu) của bài sau. Nếu câu kết của bài cuối cùng quay ngược lại làm câu mở đầu cho bài thứ nhất tạo thành vòng tròn khép kín thì gọi là Thủ Vĩ Tương Lân.
Bài 1: Quân Tử Cố Cùng
Chưa chán ru mà quấy mãi đây
Nợ nần dan díu mấy năm nay
Mang danh tài sắc cho nên nợ
Quen thói phong lưu hóa phải vay
Quân tử lúc cùng thêm thẹn mặt
Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay
Còn trời còn đất còn non nước
Có lẽ ta đâu mãi thế nầy.
Bài 2: Hội Gió Mây
Có lẽ ta đâu mãi thế nầy
Non sông lẩn thẩn mấy thu chầy
Đã từng tắm gội ơn mưa móc
Cũng phải xênh xang hội gió mây
Hãy quyết phen nầy xem thử đã
Song còn tuổi trẻ chịu chi ngay
Xưa nay xuất xử thường hai lối
Mãi thế rồi ta sẽ tính đây.
15. Liên Hườn (Ô Thước Kiều)
Lấy một vài chữ cuối cùng của bài trước đặt làm những chữ mở đầu cho câu thứ nhất bài kế tiếp (bắc cầu Ô Thước nối liền dòng thi hứng).
Khuê Phụ Thán (Trích Cửu Liên Hườn)
... Ngày qua tháng lại trông đăm đẳm
Muôn vạn xa xuôi mắt đã mòn.
Đã mòn con mắt ở Phi Châu
Có thấy chồng đâu con ở đâu
Dẫu đặng non xinh cùng bể tốt
Khó khăn gió thảm với mưa sầu...
Lời Kết
Hệ thống 42 biến thể thơ Đường Luật là kho tàng minh chứng cho trí tuệ sáng tạo phi thường, khả năng làm chủ niêm luật và sự giàu có tột bậc của ngôn ngữ tiếng Việt. Từ những luật thơ Đường gò bó, các bậc túc nho và thi sĩ hiện đại đã biến hóa thành những tuyệt tác nghệ thuật chơi chữ đỉnh cao, lưu dấu muôn đời trong dòng chảy văn học dân tộc.
Nguồn: Tổng hợp & Biên khảo văn học