1. Luật Bằng Trắc Trong Thơ Thất Ngôn Bát Cú
Hệ thống bằng trắc bao gồm 4 yếu tố then chốt: Thanh, Luật, Niêm và Vận.
1.1. Thanh Điệu: Bằng và Trắc
Gồm những tiếng không có dấu (thanh ngang: hoa, âm, thanh...) và những tiếng có dấu huyền (`: hòa, người, trời...).
Gồm những tiếng mang 4 dấu còn lại: dấu sắc ('), dấu hỏi (?), dấu ngã (~), và dấu nặng (.). Ví dụ: lá, tưởng, cũ, tự, vĩ, lộ...
1.2. Luật & 4 Dạng Bố Cục Thất Ngôn Bát Cú
Luật của bài thơ được định đoạt bởi chữ thứ 2 của câu 1. Nếu chữ thứ 2 câu đầu mang thanh Bằng thì bài thuộc Luật Bằng; nếu mang thanh Trắc thì thuộc Luật Trắc. Dựa trên chữ cuối câu 1, ta phân chia thêm thành Vần Bằng hoặc Vần Trắc, tạo nên 4 mô thức kinh điển:
舍南舍北皆春水
但見群鷗日日來
花徑不曾緣客掃
蓬門今始為君開
盤飧市遠無兼味
樽酒家貧只舊醅
肯與鄰翁相對飲
隔籬呼取盡餘杯
Xá nam xá bắc giai xuân thủy
Đản kiến quần âu nhật nhật lai
Hoa kính bất tằng duyên khách tảo
Bồng môn kim thủy vị quân khai
Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi
Khẳng dữ lân ông tương đối ẩm
Cách ly hô thủ tận dư bôi.
Phía Bắc phía Nam đẫm nước xuân
Chim âu hằng bữa viếng tưng bừng
Lối hoa không dọn vì không khách
Có bạn hôm nay mở cổng mừng
Xa chợ thức ăn đành thiếu vị
Nhà nghèo rượu ẩm có không chừng
Mời ông hàng xóm cùng nâng chén
Đem hết ra đây rượu đã lưng.
Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo, Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu. Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy, Trà sen mượn hỏi, giá còn kiêu. Bánh chưng sắp gói, e nồm chảy, Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu. Thôi thế thì thôi, đành tết khác, Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo!
Tấp tểnh người đi tớ cũng đi, Cũng lều cũng chõng cũng đi thi. Tiễn chân, cô mất hai đồng chẵn, Sờ bụng, thầy không một chữ gì! Lộc nước còn mong thêm giải ngạch, Phúc nhà nay được sạch trường quy. Ba kỳ trọn vẹn, thêm kỳ nữa, Ú ớ u ơ ngọn bút chì!
2. Quy Tắc Niêm & Vần Trong Thất Ngôn Bát Cú
2.1. Phép Niêm (Kết Dính)
Niêm (nghĩa là "dính") đòi hỏi các chữ thứ 2, 4, 6 của câu này phải cùng thanh (Bằng niêm Bằng, Trắc niêm Trắc) với chữ tương ứng ở câu liền kề:
- Câu 1 niêm với Câu 8 (khép kín bài thơ).
- Câu 2 niêm với Câu 3.
- Câu 4 niêm với Câu 5.
- Câu 6 niêm với Câu 7.
2.2. Phép Vận (Gieo Vần)
Vần của bài thơ chỉ gieo ở chữ cuối cùng của các câu quy định (cước vận), sử dụng độc vận (chỉ dùng một vần xuyên suốt bài):
- Bài thơ Vần Bằng (phổ biến nhất): Gieo vần bằng ở các câu 1, 2, 4, 6, 8.
- Bài thơ câu 1 kết trắc: Gieo vần bằng ở các câu 2, 4, 6, 8 (câu 1 không vần).
3. Biệt Lệ: "Nhất Tam Ngũ Bất Luận, Nhị Tứ Lục Phân Minh"
Nghĩa là: Các chữ thứ 2, 4, 6 bắt buộc phải giữ nghiêm ngặt thanh Bằng hoặc Trắc theo đúng công thức. Còn các chữ 1, 3, 5 có thể linh hoạt Bằng hoặc Trắc tùy ý diễn đạt của tác giả.
Nhờ có biệt lệ này, 4 dạng thơ nguyên thủy có thể gộp chung thành 2 khung sườn rút gọn, cho phép người sáng tác tự do chọn vần ở chữ cuối câu 1:
4. Cấu Trúc Bố Cục & Phép Đối Xứng
Một bài Thất Ngôn Bát Cú gồm 56 chữ được phân chia thành 4 chặng mạch lạc với nguyên tắc ngắt nhịp truyền thống là 2 / 2 / 3:
Phá đề (Câu 1): Mở đầu, giới thiệu cảnh sắc hoặc đề tài.
Thừa đề (Câu 2): Nối tiếp ý câu 1, xác định cụ thể thời gian, không gian, tâm trạng.
Giải thích, miêu tả hiện thực cụ thể cảnh vật hoặc hoàn cảnh đã nêu ở phần Đề. Hai câu này bắt buộc phải đối nhau từng chữ về từ loại và thanh điệu.
Bàn luận, suy ngẫm, mở rộng cảm xúc và chiều sâu triết lý. Hai câu này cũng bắt buộc phải đối nhau chuẩn mực như cặp Thực.
Khép lại thi phẩm, thâu tóm toàn bộ ý tứ, khơi gợi xúc cảm dư ba hoặc để lại những dư âm suy ngẫm sâu xa cho người đọc.
Nghệ Thuật Đối Ngẫu
Các cặp câu 3-4 (Thực) và 5-6 (Luận) bắt buộc phải đối: danh từ đối danh từ, động từ đối động từ, tính từ đối tính từ; thanh Bằng đối thanh Trắc. Câu 1-2 và câu 7-8 không bắt buộc đối về nghĩa từ loại nhưng phải bảo đảm đối về thanh điệu theo luật.
5. Phân Tích Bài Thơ Mẫu: "Thu Hứng" (Đỗ Phủ)
Để thấy rõ vẻ đẹp của niêm luật và cấu trúc đối xứng mẫu mực, hãy cùng thưởng thức kiệt tác Thu Hứng (Hứng Thu) của Đỗ Phủ:
玉露凋傷楓樹林
巫山巫峽氣蕭森
江間波浪兼天湧
塞上風雲接地陰
叢菊兩開他日淚
孤舟一繫故園心
寒衣處處催刀尺
白帝城高急暮砧
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vân tiếp địa âm
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm
Hàn y xứ xứ thôi đao xích
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.
Rừng phong sương trắng cảnh tiêu điều
Hiểm trở ngàn non thu hắt hiu
Sóng vọt lưng trời sông cuộn cuộn
Mây sà mặt đất ải cô liêu
Hai lần khóm cúc khơi nguồn lệ
Một lượt con thuyền trói dấu yêu
Dao thước rộn ràng may áo lạnh
Chày vang thành Bạch bóng về chiều.
Phá đề: Rừng phong tiêu điều nhuốm sắc trắng lạnh buốt của sương móc.
Thừa đề: Không gian hắt hiu, u ám bao phủ khắp hẻm núi hiểm trở Vu Sơn, Vu Giáp.
Đối cực chuẩn: Giang gian đối Tái thượng; ba lãng đối phong vân; kiêm thiên dũng (sóng vọt lưng trời) đối tiếp địa âm (mây sà mặt đất).
Đối tình - cảnh tuyệt mỹ: Tùng cúc đối cô chu; lưỡng khai đối nhất hệ; tha nhật lệ (giọt lệ nhớ quê) đối cố viên tâm (tấc lòng gắn chặt với con thuyền trôi dạt).
Tiếng kéo thước rộn ràng may áo rét và tiếng chày đập vải dội vang thành Bạch Đế trong bóng chiều tà gợi nỗi xót thương nhân dân loạn lạc thời ly tao.
Lời Kết
Thể thất ngôn bát cú đã được nhiều thế hệ thi nhân Việt Nam như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương... làm sống lại bằng tinh thần sáng tạo dân tộc. Dù niêm luật chặt chẽ, các bậc đại thi hào luôn đặt cái thần, cái hồn và cảm xúc chân thật của bài thơ cao hơn luật lệ gò bó, biến khuôn vàng thước ngọc của cổ nhân thành những khúc ca bất hủ trong lòng bạn đọc.